19 tháng 4, 2016

Hành Vi Kinh Doanh Trái Phép Nhìn Từ Vụ Ông Nguyễn Văn Tấn (Bình Chánh)

Hakan Sukur
Luật sư Hoàng Văn Thạch
Nhân vụ anh Nguyễn Văn Tấn tại Tp HCM bị khởi tố về hành kinh doanh trái phép do bán phở nhưng chậm đăng ký kinh doanh. Luật Trí Minh giới thiệu bài viết của Luật sư Hoàng Văn Thạch
Ai phải đăng ký kinh doanh?
Khi chúng ta tham gia hoạt động kinh doanh. Tức chúng ta là một thương nhân. Thương nhân có thể là một hộ kinh doanh như chủ các quan phở, quan photocopy…hoặc cùng có thể là một doanh nghiệp quy mô nhỏ vài người lao động hoặc lớn đến cả ngàn người lao động (doanh nghiệp là tên gọi chung của doanh nghiệp tư nhân và tất cả các loại công ty từ TNHH cho đến cổ phần). Theo quy định tại Điều 7 Luật thương mại 2005 thì thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh. Do vậy, nếu chúng ta tham gia kinh doanh chúng ta phải đăng ky kinh doanh với cơ quan Nhà nước để Nhà nước quản lý hoạt động kinh doanh của chúng ta. Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ pháp luật cho phép không phải đăng ký kinh doanh như trường hợp cô gái  thu mua đồng nát hoặc anh chàng bán bán bắp rang bơ trên phố…vv (danh mục các ngành nghề không phải đăng ký kinh doanh độc giả tham khảo tại Nghị định 39/2007/NĐ-CP).
Khi đăng ký kinh doanh chúng ta được cấp một loại giấy phép có thể gọi là Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh/thành lập doanh nghiệp – đây là giấy phép mẹ. Đa phần các ngành nghề chỉ cần giấy phép mẹ nhưng có một số ít ngành nghề đặc biệt mà Nhà nước cần tăng cường công tác quản lý thì chúng ta phải có thêm một loại giấy phép nữa mà xã hội gọi là giấy phép con. Ví dụ như kinh doanh nhà hàng ngoài giấy phép mẹ là Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp còn phải có thêm giấy phép con là Giấy chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm…vv
Theo quy định hiện hành của pháp luật thì nếu kinh doanh mà không đăng ký hoặc có đăng ký nhưng chưa có giấy phép con hoặc đã có đầy đủ các loại giấy phép từ mẹ đến con nhưng kinh doanh không đúng với nội dung các giấy phép này thì đây đều là hành vi kinh doanh trái phép. Hành vi này tùy từng mức độ có thể sẽ bị xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự. Cũng như các hành vi khác đa phần kinh doanh trái phép sẽ bị xử lý hành chính, nhưng cũng có không ít các trường hợp bị xử lý hình sự về hành vi này như trường hợp của người mẫu Vĩnh Thụy và bầu Kiên một người đi buôn điện thoại và một người kinh doanh tài chính. Tuy vậy thì theo BLHS 2015 ban hành ngày 09/12/2016 có hiệu lực từ 01/07/2016 tới đây thì hành vi Kinh doanh trái phép sẽ không bị xử lý hình sự.
Những khuất tất trong việc khởi tố Nguyễn Văn Tấn tội kinh doan trái phép.
Trở lại trường hợp của anh Nguyễn Văn Tấn. Theo như thông tin cơ quan báo chí phản ánh thì anh Tấn ban đầu kinh doanh phở nhưng không đăng ký nên bị Công an huyện Bình Chánh kiểm tra và xử phạt về hành vi này cùng một số hành vi liên quan. Sau đó gần một tháng Công an huyện Bình Chánh lại tái kiểm tra, lúc này anh Tấn đã bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể nhưng Công an huyện lại phát hiện anh có các hành vi vi phạm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm như: “sử dụng khu vực chế biến có côn trùng độc hại” và “sử dụng nước không đạt quy chuẩn kỹ thuật để chế biến thực phẩm” theo Nghị định 178/2013/NĐ-CP.
Ngay sau đó cơ quan Công an huyện Bình Chánh đã khởi tố vụ án và khới tố bị cán đối với anh Tấn về hành vi Kinh doanh trái phép theo Điều 159 BLHS 1999.
Những việc làm vội vả và vạch lá tìm sâu nêu trên của Công an huyện Bình Chánh đã cho thấy nhiều điểm khuất tất, không đủ căn cứ để xử lý hình sự.
Theo Điều 159 thì để xử lý tội kinh doanh trái phép phải có một trong hai điều kiện khách quan sau:  1/ hàng hóa kinh doanh trái phép phải từ 100.000.000đ trở lên hoặc 2/người vi phạm đã bị phạt hành chính về hành vi này hoặc bị kết án về tội này hoặc các tội khác có tính chất tương tự (xem Điều 159 BLHS) chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Ở đây hàng kinh doanh trái phép của anh Tấn chưa đủ 100 triệu đồng, bản thân anh Tấn chưa từng có tiền án về tội này hoặc các tội tương tự nên dư luận cho rằng anh Tấn bị khởi tố vì tình tiết “đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này”. Tuy nhiên nếu như nội dung báo chí cung cấp thì lần đầu anh Tấn bị xử lý về hành vi “kinh doanh không có đăng ký kinh doanh” (tức kinh doanh trái phép). Còn lần thứ 2 anh bị xử lý về 02 hành vi “sử dụng khu vực chế biến có côn trùng độc hại” và “sử dụng nước không đạt quy chuẩn kỹ thuật để chế biến thực phẩm” – đây là các hành vi quy định tại Điều 20 Nghị định 178/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính an toàn thực phẩm. Hành vi mà anh Tấn bị xử lý lần sau không phải là hành vi kinh doanh trái phép mà chỉ là hành vi vi phạm quy định về đảm bảo điều kiện an toàn trong vệ sinh ăn uống. Việc vi phạm quy định về đảm bảo điều kiện an toàn trong vệ sinh ăn uống không phụ thuộc vào giấy phép, không thể đánh đồng với hành vi kinh doanh trái phép được. Do vậy không thể coi anh Tấn là người đã từng bị xử lý vi phạm hành chính về kinh doanh trái phép để làm căn cứ xử lý hình sự. Đây là cấu thành cơ bản của tội danh này, nếu Công an quận Bình Chánh phạm phải lỗi này thì thực sự hết sức ngây thơ.
Tóm lại là theo thông tin báo chí phản ánh thì thấy rất khó hiểu cho việc khởi tố vụ án, khới tố bị can đối với anh Tấn về hành vi kinh doanh trái phép.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là thông tin một chiều từ cơ quan báo chí. Cá nhân tôi đã từng chứng kiến nhiều vụ cơ quan báo chí phản ánh một đằng nhưng sau khi tiếp xúc hồ sơ lại thấy có nhiều điểm khác. Ví dụ như trong lần kiểm tra thứ 2 cơ quan Công an phát hiện ông Tấn không có Giấy chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm nhưng vẫn kinh doanh thì đây lại là hành vi kinh doanh trái phép. Trước đó ông Tấn đã từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này. Do vậy việc khởi tố là có căn cứ. Chúng ta hãy cùng chờ xem Kết luận điều tra hoặc Cáo trạng để biết chính xác căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can là gì?.
Hà Nội, 19 tháng 04 năm 2016
Tội kinh doanh trái phép theo Điều 159 BLHS 1999 “1.  Người nào kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng trong trường hợp pháp luật quy định phải có giấy phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm:
a) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 160, 161, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm;
b) Hàng phạm pháp có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng”
Năm 2015 khi ban hành BLHS 2015 các nhà làm luật cho rằng xuất phát từ thực tế hiện nay, những lĩnh vực cấm kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư năm 2014 thu hẹp lại, theo đó Nhà nước chỉ cấm kinh doanh một số lĩnh vực cụ thể  và những lĩnh vực này đã được quy định tại một số điều luật cụ thể của BLHS các tội phạm liên quan đến sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng cấm; ma túy; vũ khí; buôn bán người.... Bên cạnh đó, với những lĩnh vực kinh doanh có điều kiện mà vi phạm đã bị xử phạt hành chính là đủ sức răn đe. Riêng một số lĩnh vực khác thì BLHS đã có quy định cụ thể như tội vận chuyển hàng hóa, tiền tệ qua biện giới, hoặc một số tội phạm trong lĩnh vực đất đai, bảo hiểm, buôn bán vũ khí, phóng xạ... Do đó, việc duy trì tội kinh doanh trái phép trong BLHS là không còn phù hợp vì vậy BLHS 2015 đã chính thức bỏ tội danh này. Tuy nhiên Bộ luật này  được ban hành vào 09/12/2015 và mãi đến 01/07/2016 mới có hiệu lực. Hành vi của anh Tấn xảy ra từ tháng 09/2015. Do vậy, nếu anh Tấn thực sự có hành vi kinh doanh trái phép thì vẫn xử lý bình thường theo BLHS 1999.




18 tháng 4, 2016

Luật Được Làm Ra Như Thế Nào?

Raul Gonzalez
                Luật sư Hoàng Văn Thạch
Để ra đời được một văn bản pháp luật thì rất tốn kém về tiền bạc và công sức, trải qua rất nhiều khâu. Ở Việt Nam có nhiều văn bản được coi là văn bản pháp luật do nhiều cơ quan Nhà nước ban hành; giá trị pháp lý của các văn bản này sắp xếp theo hệ thống từ cao xuống thấp tương ứng với cơ quan ban hành ra văn bản đó (Ví dụ: Quốc hội làm ra Luật, UBTV quốc hội ban hành pháp lệnh, Chính phủ ban hành Nghị định…).Độ phức tạp trong việc ban hành các văn bản này cũng tỷ lệ thuận với giá trị pháp lý của các văn bản đó. Nhân sự việc BLHS 2015 bị phát hiện có đến 07 lỗi cơ bản đang gây sự chú ý của dư luận trong thời gian vừa qua chúng tôi giới thiệu bài viết của Luật sư Hoàng Văn Thạch (Công ty luật Trí Minh - Đoàn luật sư Tp Hà Nội) giới thiệu quy trình “sản xuất” một văn bản pháp luật, cụ thể là Luật/Bộ luật (Luật đôi khi còn được gọi với tên khác là Bộ luật).
Bắt đầu từ các ý tưởng và đưa vào chương trình xây dựng.
Chương trình xây dựng luật là gì? Đó là một văn bản giống như lịch làm việc của chúng ta. Trong đó Quốc hội sẽ xác định năm nay xây dựng ban hành những luật gì? Và trong cả nhiệm kỳ sẽ xây dựng những luật gì?.
Ý tưởng về việc xây dựng luật có thể xuất phát ngẫu nhiên, cũng có thể vì lý do thực thi các Nghị quyết của Đảng hoặc do yêu cầu hội nhập quốc tế…vv. Đầu tiên các cơ quan Nhà nước hoặc đại biểu quốc hội sẽ có đề nghị về việc xây dưng Luật để gửi cho Ủy ban thường vụ quốc hội (UBTVQH). Nhưng kiểu gì trước khi đến tay UBTVQH cũng phải qua tay Chính phủ trước đã, sẽ có rất nhiều đề nghị nên Bộ tư pháp sẽ giúp Chính phủ trong việc tập hợp các đề nghị này để xây dựng thành một chương trình xây dựng Luật. Sau khi xém xét những đề nghị đó, giữ cái nào, bỏ cái nào thì Chính phủ thống nhất và trình Chương trình xây dựng luật đó lên UBTVQH đồng thời gửi cho Ủy ban pháp luật của quốc hội (UBPL) để cơ quan này thẩm tra.
Khi nhận được tờ trình của Chính phủ UBTVQH yêu cầu Chính phủ trình bày về chương trình này, đồng thời nghe ý kiến thẩm tra của UBPL. Sau khi thống nhất UBTVQH mới trình Chương trình này ra Quốc hội, Quốc hội thảo luận rồi thông qua.
Quá trình xây dựng và thông qua Luật.
Sau khi có chương trình xây dựng luật thì tùy từng trường hợp mà UBTVQH sẽ giao cho đơn vị nào đó phụ trách soạn thảo, hoặc đẩy cho Chính phủ. Ví dụ như Bộ luật hình sự 2015 thì được giao cho Bộ tư pháp soạn thảo.
Khi được giao soạn thảo thì thủ trưởng cơ quan được giao soạn thảo sẽ thành lập Ban soạn thảo, Ban soạn thảo lại thành lập ra tổ biên tập. Trong quá trình soạn thảo thì Ban soạn thảo lại lấy ý kiến đóng góp từ khắp nơi.
Sau khi soạn xong thì việc đầu tiên là chuyển cho Bộ tư pháp để thẩm định trước khi trình cho Chính phủ. Nếu dự thảo đó do Bộ tư pháp soạn thì Bộ tư pháp sẽ thành lập một hội đồng thẩm định. Bộ tư pháp thẩm định xong thì sẽ  trình lên Chính phủ, hồ sơ trình phải có dự thảo và bản thuyết minh chi tiết  về dự thảo đó (cũng có dự thảo không phải do Chính phủ soạn thảo thì Chính phủ sẽ cho ý kiến).
Sau khi hoàn tất và không còn vướng mắc Chính phủ gửi cho Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội để thẩm tra. Sau khi thẩm tra thì UBTVQH mới cho ý kiến. Cuối cùng khi đã thông suốt dự thảo chính thức được trình ra Quốc hội để thảo luận.
Các dự Luật sẽ không được thông qua ngay kỳ họp đầu tiên, mà phải trải qua ít nhất 02 kỳ họp. Kỳ họp đầu tiên chỉ thảo luận về dự luật đó, tại kỳ họp này cơ quan soạn thảo phải thuyết minh về dự thảo, lắng nghe và tiếp thu các ý kiến phản biện, đóng góp như thể thạc sĩ bảo vệ Luận văn. Sau khi kết thúc kỳ họp đầu tiên thì UBTVQH  hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo để trình lên kỳ họp  tiếp theo của Quốc hội. Nếu may mắn thì dự luật có thể được thông qua ngay kỳ họp tiếp theo, nếu không lại tiếp tục chỉnh lý chờ kỳ hợp tới (ví dụ như Luật đất đai 2013). Trong mỗi kỳ họp này thì tất cả các đại biểu Quốc hội đều được phát các dự thảo để xem và có ý kiến thảo luận và mỗi kỳ họp Quốc hội thảo luật nhiều dự Luật. Sau khi được thông qua Luật sẽ được Chủ tịch nước ký lệnh công bố, 02 ngày sau toàn bộ văn bản Luật sẽ được chuyển đăng công báo.
Chính vì việc làm Luật rất công phu, phức tạc và cầu kỳ như người Hà Nội gốc chế biến món canh rau ngót vậy, nên Luật được ban hành có thể chưa hợp lý, mâu thuẫn với các văn bản khác (vì văn bản pháp luật của Việt nam nhiều như rươi) nhưng nội dung trong văn bản mâu thuẫn với nhau, trùng lặp với nhau hoặc lỗi chính tả thì ít khi xảy ra.
Việc Bộ luật hình sự 2015 vừa qua theo thống kê sơ bộ có đến 07 lỗi cơ bản do trùng lặp giữa các quy định hoặc bỏ sót định lượng là rất hy hữu.
Các lỗi của BLHS 2015 nếu không được khắc phục sẽ gây ra hệ quả gì?
Trong 07 lỗi của BLHS được phát hiện đến thời điểm hiện tại thì chủ yếu là lỗi về số liệu do trùng lặp giữa các khoản trong cùng một điều luật hoặc bỏ sót mức định lượng cho tang vật hoặc hậu quả của hành vi vi phạm. Tất cả 07 lỗi này đều năm ở 07 điều luật có sửa đổi so với với BLHS 1999. Những lỗi này nếu không được phát hiện và khắc phục sớm sẽ gây xảy ra một trong hai hệ quả:
Thứ nhất: Các bị can phạm vào các quy định này sẽ được hưởng lợi.
Ví dụ như theo BLHS 1999 hành vi vận chuyển  “Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;” sẽ bị xử lý theo Khoản 2 Điều 194 với mức hình phạt từ 07 năm – 15 năm.
Tuy nhiên tại Điều 250 BLHS 2015 do mắc lỗi trùng lặp nên đã quy định “Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;”  vừa bị xử lý theo khoản 2 (hình phạt 02 – 07 năm tù) vừa bị xử lý theo khoản 3 (hình phạt 07 năm – 15 năm). Lúc này, theo nguyên tắc có lợi cho bị can bị cáo thì Tòa án buộc phải áp dụng khoản 2 với mức hình phạt 02 – 07 năm tù.
Không rõ ý chí của nhà làm luật thế nào nhưng thực tế các bị can, bị cáo sẽ được hưởng lợi ít nhất là so với BLHS 1999.
Thứ hai: Gây ra tình trạng lúng túng cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi điều tra truy tố, xét xử.
VD như tội “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ” theo Điều 305 BLHS 1999 thì nếu người nào đó chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép một lượng thuốc nổ từ trên 30kg đến 31 kg thì các cơ quan tố tụng sẽ không biết áp dụng vào khoản 2 (mức hình phạt 03 – 10 năm tù, áp dụng cho lượng thuốc nổ từ 10 – 30kg) hay khoản 3 (mức hình phạt 7 – 15 năm tù, áp dụng cho lượng thuốc nổ từ trên 31kg đến 100kg). Lúc đó,  các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ buộc phải vi phạm pháp luật tố tụng về thời hạn điều tra, truy tố, xét xử để xin ý kiến các cơ quan cấp trung ương điều này sẽ dẫn đến án tồn đọng.
Tuy nhiên rất may BLHS 2015 mãi đến 01/07/2016 mới có hiệu lực, vẫn còn thời gian để các cơ quan hữu quan có thời gian khắc phục, xử lý tình huống. Nếu tuân thủ theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì cơ quan nào ban hành cơ quan đó mới được phép sửa đổi nên không còn cách nào khác  Ban soạn thảo sẽ phải chờ Quốc hội thông qua dự luật BLHS sửa đổi này ngay tại kỳ họp vào tháng 7 tới đây.
BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành năm 1985 và trải qua 04 lần sửa đổi vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 và bị thay thế bằng BLHS 1999. BLHS 1999 cũng sửa đổi một lần vào năm 2009. Tháng 11/2015 Quốc hội thông qua BLHS 2015 và chính thức có hiệu lực đồng thời thay thế BLHS 1999 vào ngày 01/07/2016 tới đây.
Ngay sau khi ra đời và chuyển cho phòng Công báo thì BLHS 2015cũng đã bị phát hiện mắc nhiều lỗi. Khi phát hiện sự việc này UBTVQH đã lập tức có văn bản số 3613/UBPL13 ngày 11/11/2006 gửi Phòng công báo và Văn phòng chính phủ để đính chính lại 04 trang trong BLHS.



12 tháng 4, 2016

Cảnh Sát Khu Vực Là Ai? Họ Có Quyền Gì?

Alan Shearer
              Luật sư Hoàng Văn Thạch
Liên quan đến vụ việc một anh Cảnh sát khu vực cấp trung úy thuộc Công an một phường trên địa bàn Hà Nội có những hành vi được cho là không phù hợp với người dân trên địa bàn. Luật sư Hoàng Văn Thạch – Đoàn luật sư Tp Hà Nội có bài viết giới thiệu các quy định về lực lượng Cảnh sát khu vực và phân tích hành vi của cả hai bên.
1.            Cảnh sát khu vực (CSKV) là ai?.
CSKV là lực lượng thuộc Công an nhân dân (CAND) nằm trong cơ cấu của Công an phường, được thành lập từ năm 1955. Theo quy định mới nhất hiện nay là Thông tư  số 09/2015/ TT-BCA  thì CSKV là lực lượng Cảnh sát nhân dân, công tác tại Công an phường, thị trấn, Đồn Công an và Công an xã trọng điểm phức tạp về ANTT thực hiện chức năng thi hành pháp luật về quản lý an ninh trật tự (ANTT).  Hiểu nôm na CSKV là cánh tay nối dài của lực lượng Công an xuống dưới địa bàn, thường là các khu vực phức tạp nhằm quản lý tốt địa bàn, phục vụ chức năng phòng chống và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật. Tương tự như trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân phố là cánh tay của UBND cấp xã để thực hiện công tác quản lý vậy.
Không phải đơn vị công an cấp xã nào cũng có CSKV. CSKV chỉ được bố trí ở những Công an phường, thị trấn, đồn Công an và xã trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự nơi có Trưởng, Phó Trưởng Công  an xã là Công an chính quy.
Lực lượng này ngoài nhiệm vụ chính là quản lý về cư trú mà chúng ta thường thấy thì còn có nhiều nhiệm vụ khác như: quản lý đối tượng sưu tra; xây dựng và sử dụng cộng tác viên bí mật và phối hợp thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản về lĩnh vực an ninh chính trị; Quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo…vv.
2.            CSKV có được quyền kiểm tra đột xuất chỗ ở của công dân?
Nhiệm vụ phổ biến nhất của CSKV đó là quản lý cư trú, khi quản lý về cư trú thì CSKV được kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 Nghị định 35/2014/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật cư trú.  Các văn bản không quy định về thời gian kiểm tra, nên với việc cho phép CSKV được kiểm tra cư trú đột xuất thì được hiểu là được kiểm tra bất cứ lúc nào nếu thấy cần thiết. Khi kiểm tra cư trú thì CSKV có thể vận động các lực lượng tham gia cùng, ví dụ như tổ trưởng tổ dân phố hay cán bộ dân phòng. Đây là điều nên làm nhưng không bắt buộc; vì vậy nếu thấy CSKV đến kiểm tra cư trú một mình thì người dân cũng không nên vì lý do đó mà thiếu hợp tác. Việc kiểm tra cư trú cũng khác với việc khám xét chỗ ở trong vụ án hình sự. Việc kiểm tra khá đơn giản, CSKV chỉ kiểm tra số người có trong nhà và việc đăng ký cư trú, khai báo lưu trú của những người đó. CSKV không được lục lọi đồ đạc, sổ sách hoặc yêu cầu xuất trình bất kỳ vật hay tài liệu nào ngoài giấy tờ tùy thân. Vì là nghiệm vụ đơn giản khác với việc khám xét nên không cần phải có lệnh của thủ trưởng cơ quan điều tra và quyết định phê duyệt của Viện kiểm sát như đòi hỏi của một số người khi bị kiểm tra.
Cũng có ý kiến cho rằng quy định cho phép CSKV được kiểm tra nơi cư trú của công dân nêu tại Nghị định 35 là trái với hiến pháp, vì hiến pháp quy định Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý” do vậy CSKV không được vào nhà dân để kiểm tra khi họ chưa đồng ý. Tôi cho rằng đây là cách hiểu cứng nhắc và nghiêm trọng hóa vấn đề, bởi quyền của công dân chỉ được tôn trọng khi công dân thực hiện quyền đó một cách hợp pháp, để biết anh có thực hiện nó hợp pháp hay không cơ quan quản lý Nhà nước cần kiểm tra, mục đích của CSKV vào nhà là để kiểm tra cư trú, phục vụ công tác quản lý chứ không phải để xâm phạm chỗ ở như một số trường hợp tranh giành đất cát.
Tuy vậy, Thông tư 09/2015/TT-BCA cũng nghiêm cấm việc lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao để sách nhiễu, gây phiền hà, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tức là cho phép anh được quyền kiểm tra đột xuất nhưng không được lợi dụng việc đó để gây phiền hà cho cuộc sống của người dân. Do vậy nếu không có dấu hiệu rõ ràng thì nên hạn chế và nhất là đêm khuya thì cực kỳ hạn chế hơn nữa.
3.    Các bên nên ứng xử như thế nào?
Một trong các kỹ năng bắt buộc của CSKV được nêu tại Thông từ 09/2015/TT-BCA đó là phải có kỹ năng thuyết phục và vận động quần chúng. Để quản lý tốt địa bàn mình phụ trách, CSKV cần phải hiểu dân, hòa đồng với người dân, nếu không có kỹ năng giao tiếp với người dân thì rất dễ tạo ra xung đột với họ. CSKV mà tạo ra hình ảnh thù địch, chống đối và luôn gay gắt, căng thẳng với người dân thì coi như thất bại.
Quay trở lại vụ việc anh CSKV phường Trung Liệt. Viên cảnh sát này đến kiểm tra cư trú vào lúc 12h đêm khi nhà chỉ có 02 cô gái và có lẻ anh ta cũng chưa thực sự gần dân nên 02 cô gái không biết anh ta là ai ngoài danh phận tự xưng và bộ cảnh phục. Việc kiểm tra vào thời điểm nhạy cảm như vậy rõ ràng là rất dễ gây phiền hà cho bất kỳ ai nếu như anh không đưa ra được lý do chính đáng cho việc cần thiết phải kiểm tra vào thời điểm đó. Tuy nhiên, anh CSKV có đang cố tình lợi dụng quyền của mình để gây phiền cho người dân hay không lại là lẻ khác. Bởi việc cư trú thường diễn ra vào đêm khuya, nếu không kiểm tra vào thời điểm đó thì xác suất phát hiện trong nhà có người cư trú bất hợp pháp rất thấp. Ví dụ, công dân A cho người anh em ở quê lên Hà Nội làm việc ở cùng nhưng khôn đăng ký tạm trú hoặc khai báo lưu trú (nếu ở ít ngày), người anh em này thường đi cả ngày và tối mới về ngủ. Nếu chỉ đến kiểm tra vào ban ngày hoặc đầu tối thì không thể phát hiện hoặc nếu phát hiện thì họ lấy lí do qua chơi, do vậy việc kiểm tra vào thời điểm 12h đêm là cần thiết. Như vậy, đánh giá vấn đề cần đứng ở góc nhìn của cả 02 bên, CSKV cần biết người dân cảm thấy không thoải mái về việc đó. Nhưng người dân cũng cần biết đây là việc phải làm của CSKV để phục vụ công tác quản lý. Từ đó người dân cần thấu hiểu CSKV, không nên có những lời lẻ gây ức chế cho họ; còn CSKV cần vận dụng kỹ năng giao tiếp và thuyết phục người dân để được việc. Đừng tỏ ra hách dịch và vội vàng đưa ra những yêu cầu mang tính mệnh lệnh. Nếu đúng là có tin báo về đối tượng truy nã trốn trong nhà dân cần phải kiểm tra nhưng người dân không hợp tác thì CSKV cần cương quyết, bám địa bàn và gọi lực lượng khác hỗ trợ chứ không phải bỏ đi bất lực và thiếu trách nhiệm như vậy. Điều đó chỉ chứng tỏ trung úy Bắc thiếu kỹ năng và đang nói dối về lý do thực thi công vụ của mình.
Đoạn clip không chưa rõ để xác định CSKV có nhổ nước bọt vào người dân hay không. Nếu có thì đây là hành vi thiếu đạo đức, tác phong nghề nghiệp của bất kỳ công chức, viên chức nào cần phải có biện pháp xử lý kỷ luật tương thích. Thậm chí trong một số trường hợp việc nhổ nước bọt vào mặt người khác còn có thể bị xử lý hình sự về tội làm nhục người khác.
Hoạt động của CSKV chủ yếu được điều chỉnh bởi các điều lệnh; trong điều lệnh này sẽ đưa ra định nghĩa, các nhiệm vụ, chức năng, những việc được làm và không được làm của CSKV…. Từ khi thành lập CSKV đến nay có tất cả 05 điều lệnh được ban hành vào các năm 1974, 1987, 1994, 2007 và 2015. Các điều lệnh này đi kèm các Quyết định của Bộ trưởng BCA hoặc Thông tư của Bộ trưởng. Đây đều là các văn bản quy phạm pháp luật nhưng chúng ta không thể tìm thấy nó trên tài nguyên mạng, dường như người ta coi nó là bí mật Nhà nước và chỉ được sử dụng lưu hành nội bộ (Luật ban hành văn bản pháp luật cho phép những văn bản pháp luật thuộc bí mật Nhà nước thì không phải công khai) – đây là thực trạng chung của rất nhiều văn bản do Bộ công an ban hành. Một lực lượng thường xuyên tiếp xúc và va chạm với nhân dân và mọi vấn đề đời sống của họ nhưng các các quyền và nghĩa vụ của anh lại mập mờ, khôn để người dân được hiểu mình. Điều đó cho thấy danh của anh không chính, mà danh không chính thì ngôn sẽ không thuận.

30 tháng 3, 2016

Quấy Rối Tình Dục Trong Pháp Luật Việt Nam

Adam Johnson ( bi kết án 6 năm tù vì hành vi QRTD)
Luật sư Hoàng Văn Thạch
Quấy rối tình dục (sexual harrassment) là một hành vi phạm pháp theo quy định của nhiều nước. Trong một chỉ thị của Liên minh châu âu thì quấy rối tình dục có nghĩa là “Khi một thái độ có liên quan đến giới tính thể hiện ở hình thức có từ ngữ, không từ ngữ hay bằng cơ thể có mục đích hay có tác động làm tổn thương đến phẩm giá của một người hay tạo nên một môi trường mang nhiều dọa dẫm, thù địch, hạ thấp, lăng nhục, xúc phạm hay bối rối.” Đây cũng là cách hiểu chung theo thông lệ quốc tế. Ở Việt Nam cụm từ “quấy rối tình dục” cũng được ghi nhận trong một văn bản pháp luật nhưng không đưa ra bất cứ khái niệm nào giải thích hành vi này.
Năm 2012 lần đầu tiên cụm từ “quấy rối tình dục” xuất hiện trong một văn bản pháp luật của Việt Nam đó là Bộ luật lao động 2012. Đây được xác định là một hành vi bị nghiêm cấm, và là căn cứ để Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Ngoài ra không có bất cứ chế tài nào khác để xử lý người có hành vi quấy rối. Năm 2015, được sự giúp đỡ của Tổ chức lao động quốc tế ILO, Bộ lao động TBXH đã phối hợp với Phòng TM và CN Việt Nam công bố Bộ quy tắc ứng xử về quấy rối tình dục tại nơi làm việc, trong đó định nghĩa “quấy rối tình dục là hành vi có tính chất tình dục gây ảnh hưởng đến tâm lý của nữ giới, nam giới. Đây là hành vi không được chấp thuận, không mong muốn và không hợp lý làm xúc phạm đối với người nhận, tạo môi trường bất ổn, đáng sợ và thù địch”.  Đồng thời liệt kê các hình thức quấy rối tình dục có thể là bằng sự va chạm thể chất, bằng lời nói hoặc bằng một hành vi phi lời nói (ngôn ngữ cơ thể không đúng đắn, phơi bày tài liệu khiêu dâm). Tuy không phải là một văn bản quy phạm pháp luật nhưng nó được công bố bởi một cơ quan cấp trung ương nên đây có thể coi là một nguồn tham khảo đáng tin cậy. Mặc dù vậy thì  quấy rối tình dục vẫn chỉ được điều chỉnh ở lĩnh vực lao động trong mối quan hệ chủ - thợ; trong khi thực tế nó xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống như gia đình, trường học và trong quá trình hành nghề người viết cũng chưa chứng kiến một vụ kiện lao động nào liên quan đến hành vi quấy rối tình dục.
Một vài dạng của hành vi quấy rối tình dục cũng được ghi nhận như một hành vi vi phạm pháp luật và có chế tài xử lý không đáng kể. Trong nghi định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh – trật tự tại điều 53 có quy định hành vi “kích động tình dục hoặc lạm dụng thân thể đối với thành viên gia đình mà thành viên đó không phải là vợ, chồng” có thể nhận mức xử phạt năm trăm ngàn đến một triệu đồng; một mức rất thấp so với thu nhập hiện nay.
Cụm từ “quấy rối tình dục” không được thể hiện trong Bộ luật hình sự của Việt Nam. Trước năm 2015 cũng không có bất cứ dạng hành vi quấy rối tình dục nào được ghi nhận như là hành vi phạm tội hình sự. Chỉ những hành ở cấp độ cao hơn như dâm ô với trẻ em, giao cấu với trẻ em, cưỡng dâm, hiếp dâm mới coi là tội phạm. Trong đó tội “dâm ô với trẻ em” tương ứng với tộ danh “quan hệ tình dục bằng đường miệng với trẻ em dưới 18t” theo Bộ luật hình sự của tiểu bang California mà diễn viên Minh Béo đang bị cáo buộc, mức hình phạt đối với tội này theo BLHS 1999 là từ 06 tháng đến 12 năm tù tùy từng trường hợp. Tuy vậy ở Việt Nam thì tội danh “dâm ô với trẻ em” của Việt Nam chỉ áp dụng đối với người bị hại dưới 16t; hành vi “dâm ô với trẻ em” cũng không có định nghĩa nhưng được giới luật sư và các cơ quan tố tụng hiểu là hành vi đụng chạm vào những bộ phận nhậy cảm của trẻ em hoặc buộc trẻ em đụng chạm vào những bộ phận nhậy cảm của người phạm tội (trong đó bao gồm cả hành vi quan hệ tình dục bằng đường miệng của Minh Béo). Cũng có một số ý kiến cho rằng một vài hành vi kiểu như quấy rối tình dục sẽ bị xử lý về tội làm nhục người khác theo Điều 121 BLHS 1999, nhưng thực tế hiếm khi ghi nhận.
Đến năm 2015 thì Việt Nam chính thức ghi nhận một dạng của hành vi quấy rối tình dục là hành vi phạm tội (có hiệu lực từ 01/07/2016). Đó là hành vi sử dụng trẻ em dưới 16t vào mục đích khiêu dâm. Theo đó tại Điều 147 BLHS 2015 quy định “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” – một số trường hợp nghiêm trọng hơn có mức hình phạt đến 12 năm tù.
Như vậy, dù chưa đầy đủ; nhưng theo xu hướng chung của quốc tế Việt Nam cũng dần dân có quy định để điều chỉnh những hành vi được coi là quấy rối tình dục tuy nó không được diễn tả bằng cụm từ “quấy rối tình dục”.
Liên hệ với hành vi mà Minh Béo bị cáo buộc tại Mỹ, nếu ở Việt Nam thì  hành vi “quan hệ tình dục bằng miệng với câu bé 14t” của anh này sẽ bị xử lý về tội “dâm ô với trẻ em”. 02 tội danh sau đó mà Minh Béo bị cáo buộc là: toan có hành động dâm ô với trẻ em dưới 14 tuổi, và hẹn hò gặp gỡ với dự tính có hành động dâm ô với trẻ vị thành niên sẽ không bị truy tố thêm về tội danh khác mà được sử dụng như là tình tiết để đánh giá tính chất nghiêm trọng trong hành vi, ý thức của bị cáo làm cơ sở để đưa ra hình phạt trong khung đã định.  Trong đó tội danh thứ 3 nếu đứng độc lập với 02 tội danh trước thì ở Việt Nam sẽ không bị truy tố về bất cứ tội danh nào cả.
Hà Nội, 30 tháng 03 năm 2016


26 tháng 3, 2016

Góc Nhìn Vụ Bắt Giam Facebooker Trần Minh Lợi

Hristo Toichkov
LS Hoàng Văn Thạch
Mấy ngày trước, dư luận thế giới bàng hoàng bởi vụ đánh bom ở sân bay Brussels, nhà chức trách gọi đây là hành vi khủng bố; cách đây hơn 01 tuần một vụ nổ ở khu đô thị Văn Phú làm chết 04 người, người ta cho rằng đây là một hành vi vô ý làm chết người vì thiếu hiểu biết và bất cẩn của chủ tiệm thu mua phế liệu. Và 04 năm trước Vũ Đức Tiềm ( ở Bắc Ninh) vì những mâu thuẫn vụn vặt đã cài thuốc nổ vào xe của chị dâu làm chị này và con gái thiệt mạng khi vừa ra khỏi nhà, anh ta bị xử tử hình vì tội giết người. Cả 03 vụ việc trên có điểm chung là đều làm chết nhiều người, vậy tại sao người ta không gọi Vũ Đức Tiềm là tên khủng bố, không coi vụ nổ ở Hà Đông là vụ giết người hay những kẻ đánh bom ở Brussels là kẻ vô ý làm chết người vì bất cẩn. Câu trả lời nằm ở mục đích, động cơ thực hiện hành vi của những người này. Rồi câu chuyện thực thi pháp luật ở nước ta, người dân cứ phải đút phong bì cho cán bộ để đi làm các thủ tục hành chính như như cấp sổ đỏ, xin xác nhận giấy tờ gì đó ở ủy ban …vv mà lẽ ra họ phải được phục vụ. Liệu người dân có đang phạm tội đưa hối lộ không?. Những dẫn chứng trên đây sẽ tiền đề để nói về những khía cạnh pháp lý trong vụ bắt giam facebooker Trần Minh Lợi đang được rất nhiều người chú ý vừa qua.
1.            Người đưa tiền có mục đích yêu cầu cơ quan Công an thả người hay không?
Trong vụ việc này cơ quan công an khởi tố đối với Trần Minh Lợi và người nhà của các con bạc về tội đưa hối lội 60.000.000đ. Theo Điều 289 BLHS 1999 mức hình phạt cao nhất có thể đến 20 năm tù.
Theo Điều 279 và 289 BLHS thì hành vi đưa hối lộ là hành vi đưa tài sản cho người có chức vụ để thực hiện một công việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa tài sản. Như vậy việc đưa tài sản cho người có chức vụ phải kèm theo mục đích là anh có muốn người ta thực hiện công việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của anh hay không thì mới coi là đưa hối lộ. Như đã ví dụ ở phần đầu cùng một hành vi làm nổ vật liệu nổ và làm chết nhiều người nhưng có người thì phạm tội khủng bố, có người là giết người, có người lại là vô ý làm chết người (và sẽ bị khởi tố về tội này nếu còn sống). Trong vụ án này nếu như người nhà các con bạc và Trần Minh Lợi ngay sau khi đưa tiền cho trung úy Công an đã tố cáo ngay việc này ra cơ quan chức năng mà chưa cần chờ đến việc người nhà của họ có được tại ngoại hay không thì rõ ràng mục đích của họ là để tố cáo cán bộ điều tra chứ không phải yêu cầu cán bộ điều tra tác động thả người. Nhưng nếu ngược lại – mục đích đưa tiền là để cho người nhà được tại ngoại, sau khi đạt được mục đích chính rồi mới tố cáo để đạt được mục đích tiếp theo thì thật khó để bào chữa cho hành vi của mình, lúc này “công” – “tội” sẽ phân minh, rõ ràng. “Tội” của anh là người phạm tội đưa hối lộ, còn “công” của anh giúp phát hiện thêm tội phạm khác của viên cảnh sát đã nhận tiền. Cái “công” này trong một số trường hợp có thể giúp anh được miễn trách nhiệm hính sự đối với “tội” mà anh phạm phải, nhưng không phải tất cả mọi trường hợp đều như vậy. Việc này pháp luật có quy định, nhưng việc xem xét có được miễn trách nhiệm hình sự hay không phụ thuộc vào yếu tố cảm tính rất nhiều (xem khoản 6 điều 289 BLHS dưới đây).
Trên đây mới chỉ là góc nhìn ở hành vi đưa tài sản và mục đích của việc đưa tài sản. Để đánh giá chính xác hành vi của người nhà con bạc và Trần Minh Lợi cần phải xem xét đến tình tiết dưới đây:
Cái gì đã khiến người dân phải “hối lộ” Công an?
Theo như thông tin báo chí đưa thì 06 con bạc bị Công an huyện Đắc Mil bắt quả tang với số tiền đánh bạc là hơn 04 triệu đồng. 04 triệu đồng là số tiền đủ để xử lý hình sự, nhưng trong một vụ án hình sự thì đây là số tiền rất nhỏ. Mức hình phạt cho người tham gia đánh bạc với số tiền từ 02 triệu – 50 triệu có thể là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ, hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm. Trong pháp luật hình sự thì những tội có khung dưới 03 năm như tội Đánh bạc ở khoản 1 được xếp vào nhóm tội ít nghiêm trọng. Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định đối với loại tội ít nghiêm trọng này chỉ được bắt tạm giam khi có căn cứ cho rằng người phạm tội có hành vi cản trở hoạt động điều tra hoặc có hành vi bỏ trốn hoặc sẽ tiếp tục phạm tội. Vậy câu hỏi là các con bạc có dấu hiệu của một trong ba hành vi này hay không mà Công an huyện Đăk Mil phải bắt tạm giam họ để rồi dẫn đến một loạt những người khác vướng vòng lao lý. Sở dĩ nói điều này vì thực tế lâu nay cho thấy các cơ quan điều tra thường không tuân thủ quy định này, việc bắt người quá dễ dàng. Việc bắt tạm giam được giải thích đơn giản là thấy cần thiết phục vụ cho hoạt động điều tra. Trong khi hình phạt của tội này có thể là phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ mà anh đã tạm giam người ta rồi thì khác nào mua cái xe 500 triệu bắt tạm ứng 01 tỷ đồng. Nếu như không có căn cứ chứng minh được những con bạc có hành vi cản trở hoạt động điều tra hoặc bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội thì rõ ràng cơ quan Công an huyện Đăk Mil đang làm sai, cai sai đó rất nghiêm trọng vì nó tước đi quyền tự do của công dân. Đứng trước cái sai này đôi khi để được làm đúng người dân phải đưa tiền. Việc đó lâu nay người dân vẫn làm, từ việc xin sổ đỏ cho đến đăng ký thường trú … và được thừa nhận như là thực trạng của xã hội. Vậy phải chăng tất cả đó đều là hành vi đưa hối lộ.
Đây là lỗ hổng lớn của pháp luật, hiện chưa có hướng dẫn cụ thể, TAND Tối Cao cần sớm có hướng dẫn đối với hành vi đưa hối lộ theo hướng là việc đưa tài sản cho người có chức vụ để thực hiện một công việc theo yêu cầu hoặc lợi ích của người đưa tài sản mà công việc đó là để khắc phục, hạn chế việc cố tình sai phạm của người có chức vụ, quyền hạn thì không coi đó là hành vi đưa hối lộ. Với quy định hiện nay thì sẽ có nhiều người hiểu cứ đưa tiền là hành vi hối lộ.
Thực tế lâu nay chưa thấy xử lý hình sự đối với hành vi đưa tài sản cho người có chức vụ quyền hạn để họ bớt hành dân. Vì vậy nếu người nhà con bạc và Trần Minh Lợi có đưa tiền cho cán bộ điều tra để thả người vì trước đó đã bắt người trái pháp luật thì không nên xử lý hình sự đối với những người này. Nếu xử lý họ về hành vi đó thì về mặt tư duy nó cũng giống như chính quyền để các hộ kinh doanh lấn hết vỉa hè, người dân phải đi bộ xuống lòng đường rồi lại xử lý họ về hành vi vi phạm pháp luật giao thông.
Khoản 6 Điều 289 BLHS 1999 (sắp tới được thay thế bằng khoản 7 Điều 364 BLHS 2015) quy định:
Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được  trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.”
Hà Nội, 24 tháng 03 năm 2016






Góc Nhìn Vụ VTV & Bùi Minh Tuấn

Gheorghe Hagi
Luật sư Hoàng Văn Thạch
Việt Nam, một đất nước ngoài các sản phẩm như nông – lâm sản, khoáng sản thô và lao động phổ thông, chúng ta không có gì đặc biệt chào bán cho thế giới. Thị trường Việt Nam không khác gì một phiên chợ quê đìu hiu với những mặt hàng cây nhà lá vườn. 
Muốn cạnh tranh được với thế giới, chúng ta cần một nền kinh tế có hàm lượng trí thức cao hơn. Muốn vậy thì một trong các điều kiện là pháp luật cần khuyến khích và bảo hộ tốt cho quyền sở hữu trí tuệ (gọi tắt là SHTT). 
Nếu như trước đây nói đến SHTT chúng ta ngơ ngác như những người nông dân khi lần đầu nhìn thấy máy gặt đập liên hoàn của Nhật, thì ngày nay nó đã trở thành một khái niệm tương đối phổ thông. Cùng với quá trình hội nhập, một loạt các nghiệp vụ liên quan đến SHTT ra đời như: đăng ký nhãn hiệu, quyền tác giả; đăng ký li-xăng...
Các hợp đồng đối với đối tác hay người lao động đã bắt đầu kèm theo điều khoản bảo mật thông tin chặt chẽ. Các công ty Luật về SHTT vì thế cũng ngày một ăn nên làm ra. 
Ý thức bảo vệ quyền SHTT là vậy, nhưng ý thức của cộng đồng trong việc tôn trọng quyền SHTT của người khác lại chưa cao. Tính chuyên nghiệp trong xử lý xung đột khi phát sinh tranh chấp cũng gây nhiều ồn ào, tranh cãi. Sự việc mới đây giữa VTV và anh Bùi Minh Tuấn là ví dụ điển hình.
Vì sao VTV vi phạm?
VTV - Đài truyền hình quốc gia đã nhiều lần sử dụng, cắt ghép tác phẩm của người khác mà không ghi rõ nguồn, điều này đã vi phạm quyền đứng tên tác phẩm theo Khoản 2 điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ. Đây hẳn không phải là chủ trương của VTV, vi phạm đó đến từ những con người trực tiếp thực hiện nội dung đó. Bản thân họ có lẽ không hẳn cố ý vi phạm một cách có chủ đích mà sự vi phạm đến từ sự vô tư trong công việc. 
Dường như người thực hiện đã quen với việc xài "chùa" tài sản SHTT của người khác. Thói quen này bắt đầu từ những thói quen nhỏ như nhìn bài hay chép tài liệu khi làm bài kiểm tra, đến việc to tát hơn như làm luận văn, luận án tiến sĩ. Thị trường thì nhan nhản sách và phim đĩa lậu. Chẳng ai dại gì để ý đến các tác phẩm gốc khi cả người bán và người mua đều có lợi. 
Hồi tôi còn học thì một trong những nguồn doanh thu của các cửa hàng photo là bán sách photo cho sinh viên, thậm chí đó có thể là các cuốn sách về SHTT. Sinh viên thì vô tư dùng và chẳng cần quan tâm đến việc mình có đang tiếp tay cho hành vi vi phạm SHTT hay không? 
VTV là một tổ chức – mà tổ chức thì hình thành từ những cá nhân. Cá nhân lại là một thực thể trong một xã hội, một xã hội coi việc xài "chùa" tài sản SHTT là bình thường, thì việc VTV mang tiếng đi “ăn cắp” của người khác cũng là dễ hiểu. 
Người Bị Hại có đang phản ứng một cách quá mức?
Anh Bùi Minh Tuấn là tác giả của tác phẩm Việt Nam qua góc nhìn flycam. Trước việc liên tục bị vi phạm quyền tác giả, anh đã buộc phải thực hiện quyền tự bảo vệ mình là yêu cầu Youtube khóa kênh của VTV. Tiếp theo, anh muốn có một lời xin lỗi công khai từ VTV. Các biện pháp tự bảo vệ này đều phù hợp với quy định tại Điều 198 Luật SHTT. 
Tuy nhiên, khi mà giữa hai bên đang trong giai đoạn tự hòa giải với nhau thì có vẻ như anh đang làm quá mọi chuyện khi đặt đến 9 camera tường thuật trực tiếp buổi gặp gỡ giữa hai bên và công khai tất cả mọi chuyện cho báo chí. 
Nếu thực sự chỉ vì không muốn mình bị rơi vào trường hợp như Tân Hiệp Phát và Võ Văn Minh, hoàn toàn có nhiều cách đơn giản hơn để tự bảo vệ mình như mời đại diện chính quyền, đoàn thể chứng kiến hoặc có thể sử dụng dịch vụ thừa phát lại để lập vi bằng về buổi làm việc.
Như đã nói, VTV là một tổ chức nhưng thực thi lại là con người. Với con người, danh dự, uy tín còn cao hơn cả việc đúng hay sai. Không ai có thể thoải mái khi đối phương đang tiếp đón mình theo cách như vậy cả. Cách sử xự như vậy có lẽ đến từ thói quen dùng các mối quan hệ gia đình, xã hội và các thiết chế phi tư pháp để giải quyết xung đột của người dân Việt Nam (mặc dù nó đang dần thay đổi).
Những điều anh Tuấn làm hoàn toàn đúng với pháp luật và cũng dễ hiểu nếu đặt mình vào tâm lý của một người bị xâm phạm bản quyền nhưng vấp phải thái độ có phần kẻ cả một số nhân viên VTV trên mạng xã hội, nhưng lại khiến sự việc đi xa bản chất ban đầu của nó là vi phạm bản quyền.
Bản thân anh Tuấn và một số bình luận trên mạng xã hội đã quy chụp quá mức khi cho rằng hành vi của VTV là "ăn cắp", trong khi về bản chất, đây là một vụ việc dân sự trong muôn vàn những xung đột rất bình thường mà xã hội luôn phải đối mặt khi vận hành, nhất là ở Việt Nam, nơi ý thức bản quyền còn là một vấn đề rất "sơ khai".
Thượng tôn pháp luật
Youtube đã khóa kênh của VTV, giờ anh cần một lời xin lỗi.Nếu VTV không hợp tác và tự nguyện, anh Tuấn có thể khởi kiện lên Tòa án. Hãy sử dụng quyền của mình một cách hợp lý bằng con đường tư pháp. 
Hành vi vi phạm của VTV đã rõ, bản thân VTV cũng đã thừa nhận. Hành vi đó đáng bị trừng trị và lên án. Nhưng việc trừng trị cần phải được giải quyết bằng các chế định pháp luật. Không nên làm mọi chuyện trở nên rối rắm bằng các lời tuyên chiến trên mặt báo và những động thái phòng vệ quá mức.  Nếu anh Tuấn khởi kiện vụ việc tại cơ quan tòa án khi hai bên không tự hòa giải được  cũng đồng nghĩa với tạo ra một tiếng vang và tiền lệ tốt để giải quyết những vụ xâm phạm bản quyền cũng như nhiều vụ việc dân sự khác có thể bị đẩy đi quá xa trong những tranh cãi rối rắm về đạo đức ứng xử trong tương lai. Đó cũng là hành vi đúng đắn nhất với 1 xã hội thượng tôn pháp luật. Cả 2 bên ai cũng có những lý lẽ đúng và sai để giải thích hành vi của riêng mình, nhưng thay vì bị cuốn theo những thước đo chín người mười ý, hãy để luật pháp lên tiếng.
Các phương tiện truyền thông và dư luận cũng đừng vì tâm lý bênh vực người yếu thế mà biến tướng câu chuyện với những lời lẽ cay nghiệt và đay nghiến khi mô tả hành vi người khác là “ăn cắp” trong khi như đã nói  nó chỉ là hành vi vi phạm pháp luật dân sự và hành chính như bao hành vi khác khi chưa gây ra hậu quả gì to tát.
1. Lược sử pháp luật về SHTT: 
Pháp luật về SHTT chính thức du nhập vào Việt Nam từ hơn 120 năm nay, bắt đầu từ khi người Pháp áp dụng Luật văn bằng phát minh 1893. Tuy nhiên trải qua nhiều biến động của Lịch sử, việc làm quen với các quy định về SHTT có lẽ chỉ bắt đầu từ Pháp lệnh bảo hộ sở hữu công nghiệp 1989 (trước đó ở Miền Nam có Luật về phát minh và Nhãn hiệu thương mại 1957). 
Sau này các quy định về SHTT được quy định tại BLDS 1995. Đến năm 2005 để gia nhập WTO chúng ta ban hành Luật sở hữu trí tuệ 2005 và mới đây được sửa đổi bằng Luật SHTT 2009.
2. Định nghĩa quyền SHTT:
Quyền SHTT hiểu nôm na là những gì do con người tư duy phát triển ra và có giá trị cho xã hội. Luật SHTT 2005 định nghĩa “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”.

Bạn Có Thể Liên Đới Với Người Gây Tại Nạn Giao Thông Như Thế Nào?

Juninho Perrnambucano
Ls Hoàng Văn Thạch
Mới đây, trên địa bàn quận Long Biên đã xảy ra vụ tai nạn đặc biệt làm chết 03 người. Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án và tạm giam đối với tài xế gây ra vụ tai nạn nói trên. Bước đầu cơ quan điều tra xác định tài xế có dấu hiệu phạm vào tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Điều 202 BLHS 1999. Đối với tội danh này thì gây ra cái chết của 03 người được xác định là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, người vi phạm sẽ bị truy tố theo Khoản 3 Điều 202 với mức hình phạt của khung này là từ 07 năm  - 10 năm tù.
Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông thì có lẻ phần lớn mọi người đều biết. Bài viết này phân tích các hành vi vi phạm khác mà người có phương tiện giao thông, người tham gia giao thông có thể gặp phải mà không biết rằng hành vi của mình có thể phải chịu hậu quả pháp lý không lường.
1.            Hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đườn bộ.
Tức là khi chúng ta biết một người không đủ điều kiện để lái xe. Không đủ điều kiện để lái xe có thể là người đó không có giấy phép, không có bằng lái phù hợp hoặc khi chúng ta biết người đó vừa sử dụng ma túy xong hoặc vừa uống một lượng rượu lớn …vv.
Đây là trường hợp rất phổ biến trong cuộc sống.  Ví dụ như phụ huynh giao xe moto có dung tích trên 50cm3 cho con đến trường khi chưa đủ 18t hoặc khi chúng ta tổ chức uống bia rượu với bạn hữu xong lại giao xe cho chính người vừa uống bia rượu điều khiển xe. Nếu những người này, sau khi được chúng ta giao xe họ lại vi phạm quy định của pháp luật gây tai nạn thì chúng ta sẽ bị xử lý tương ứng với hậu quả do hành vi tai nạn gây ra. Nếu người gây tai nạn gây ra hậu quả chỉ ở mức xử lý hành chính thì chúng ta cũng bị xử lý hành chính. Nếu gây hậu quả ở mức đủ để xử lý hình sự thì chúng ta cũng sẽ bị xử lý hình sự. Hẳn lúc này chúng ta sẽ rất bất ngờ khi nhận được chát của cơ quan tố tụng.
Ví dụ: nếu họ gây tại nạn làm chết 03 người. Bản thân họ bị truy tố theo Khoản 3 Điều 202 với tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với mức hình phạt từ 07 – 10 năm tù thì chúng ta cũng bị Xử lý theo Khoản 3 Điềi 205 BLHS 1999 về tội “giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” với mức hình phạt từ 05 – 12 năm. Nếu người đó chưa gây ra hậu quả để xử lý hình sự, chỉ ở mức xử lý hành chính thì chúng ta cũng bị xử lý hành chính về hành vi giao xe cho họ theo quy định tại Điều 1 Nghị định 107/2014/NĐ-CP với mức xử phạt từ 800.000đ – 1.000.000đ nếu là xe máy và 2.000.000đ – 4.000.000đ nếu là xe oto.
Mặt khác, do việc giao xe là bất hợp pháp nên giao dịch giữa hai bên không được pháp luật công nhận và khi đó theo pháp luật dân sự chủ phương tiện còn phải trực tiếp bồi thường cho người bị hại. Tất nhiên sau đó chủ phương tiện tiện được quyền yêu cầu người gây ra tai nạn bồi hoàn lại.
2.            Hành vi không cứu giúp người trong trạng thái nguy hiểm đến tính mạng.
Đây là hành vi không hành động mà người ta hay nói rằng “tôi chả làm gì cả mà cũng bị …”. Hành vi này thì diễn ra trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên phổ biến nhất là các trường hợp xảy ra khi tham gia giao thông.  Đó là khi chúng ta chứng kiến một người bị tai nạn giao thông, nguy hiểm đến tính mạng, chúng ta có điều kiện để cứu giúp nhưng vì tâm lý e ngại nên chúng ta không có bất kỳ phản ứng gì cứu giúp họ. Điều 38 Luật giao thông đường bộ đã quy định tất cả những người có mặt tại hiện trường phải giúp đỡ, cứu chữa kịp thời người bị tai nạn. Tuy nhiên bằng nhiều cách chúng ta chỉ đơn giản đứng xem hoặc cứ tiếp tục công việc của mình một cách vô cảm. Việc này là trái pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính từ 500.000đ – 1.000.000đ theo Điều 11 Nghị định 171/2013/NĐ-CP. Thậm chí nếu sau đó nạn nhân qua đời. Chúng ta có thể bị xem xét xử lý hình sự về tội “không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng” theo Điều 102 BLHS 1999 với khung hình phạt từ cảnh cáo đến 02 năm tù. Sẽ còn nặng hơn nếu chúng ta là người đã vô ý gây ra tai nạn cho họ, khi đó khung hình phạt sẽ là 01 - 05 năm tù. 
Ví du: trong một tai nạn giao thông, nạn nhân chưa chết. Có tài xế lái xe ngang qua chứng kiến sự việc này, thâm chí có người vẫy xe yêu cầu đưa nạn nhân đi cấp cứu nhưng tài xế không có bất kỳ hành vi nào cứu giúp nạn nhân, sau đó nạn nhân qua đời thì tài xế sẽ bị xử lý hình sự về tội danh này.
Một tình huống nữa mà mọi người quan tâm là khi tham gia giao thông chẳng may chúng ta gây ra tai nạn. Câu hỏi là chúng ta có quyền rời bỏ hiện trường hay không?. Vấn đề này tại Điều 38 Luật giao thông đường bộ yêu cầu người gây ra tai nạn có nghĩa vụ ở lại hiện trường cho đến khi người của cơ quan Công an đến. Chúng ta chỉ được rời đi khi: 1/ Chúng ta cũng bị thương và cần đến cơ sở y tế ngay, 2/ Chúng ta tham gia đưa nạn nhân đi cấp cứu, 3/ Khi chúng ta bị đe dọa đến tính mạng. Cả 03 trường hợp này ngay sau đó chúng ta phải đến trình diện với nhà chức trách. Va trong 03 trường hợp này trường hợp thứ 3 là trường hợp phổ biến nhất vì thực tế đôi khi người nhà nạn nhân đến hiện trường và có hành vi quá khích, tấn công người gây tai nạn. Nhưng cũng không ít lái xe vì tâm lý hoảng loạn đã bỏ trốn khỏi hiện trường, bỏ mặc nạn nhân.  Nếu không cẩn thận chúng ta có thể bị xử lý hình sự về tội Không cứu giúp người trong trạng thái nguy hiểm đến tính mạng. Xem xét “bị đe dọa đến tính mạng” phải dựa vào các yếu tố khách quan, chứ không phải xem xét đến cảm xúc chủ quan của chúng ta. Ví dụ khi chúng ta chẳng may gây tai nạn ở một khu vực ít dân cư trong đêm tối. Trường hợp này chúng ta nên kiểm tra xem nạn nhân như thế nào, nếu họ còn sống thì cần có biện pháp cứu giúp họ. Khi đó không có tác nhận nào đe dọa đến tính mạng của chúng ta nên chúng ta không thể viện lý do “bị đe dọa đến tính mạng” để bỏ khỏi hiện trường được. Ngược lại khi gây tai nạn ở khu đông dân cư, nhiều người qua lại; nạn nhân đã được nhiều người khác tham gia cứu giúp, thậm chí có cả người nhà nạn nhân ở đó và họ đang mất bình tĩnh. Khi đó chúng ta có thể lui khỏi hiện trường đến thằng cơ quan Công an trình diện.
Trên đây chỉ là bài viết phân tích mang tính chất chất phổ biến pháp luật theo quy định chung. Để áp dụng vào một trường hợp cụ thể cơ quan chức năng cần có đầy đủ thông tin để phân tích đầy đủ các yếu tố khách quan, chủ quan, chủ thể của người liên quan để xác định người đó có vi phạm quy định của pháp luật hay không?. Ví dụ có trường hợp người bị tai nạn nếu được chúng ta đưa đi cấp cứu, hoặc chúng ta sơ cứu kịp thời thì sẽ được cứu sống. Nhưng cũng có trường hợp chúng ta chỉ nên chờ người của cơ quan y tế đến thì sẽ tốt cho nạn nhân hơn. Pháp luật không phải lúc nào cũng áp dụng một cách máy móc và công thức như toán học. Dù chúng ta là người tham gia giao thông, người gây tai nạn, nạn nhân, người chứng kiến hay người thực thi công vụ thì nên hành xử một cách có trách nhiệm, đừng vô cảm.
Đối với tội "Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ” hiện BLHS 1999 đang quy định hình phạt nặng nhất đối với tội này lên đến 12 năm tù. Tuy nhiên BLHS 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 tới đây mức hình phạt cao nhất là 07 năm tù nhưng có thể kèm theo mức phạt tiền từ 07 – 10 triệu đồng.
Còn đối với tội “Không cứu giúp người đang trong trạng thái nguy hiểm đến tính mạng” hiện BLHS 1999 đang quy định mức hình phạt nặng nhất đối với tội này là 05 năm tù. BLHS 2015 nâng mức hình phạt cao nhất lên đến 07 năm tù.