14 tháng 4, 2012

Ngược Đời



Luật sư tập sư: Hoàng Văn Thạch
Noriko Sakai
Hôm nay đọc Văn Hóa Thể Thao thấy Đinh Thanh Trung lại kiện ông Kiên Béo vì ông Kiên không chịu đưa cho Đinh Thanh Trung cái giấy thanh lý hợp đồng (hợp đồng lao động). Việc này đã ầm ĩ trên báo một thời gian dài. Không hiểu Đinh Thanh Trung đòi cái mảnh giấy đó để làm gì, pháp luật lao động đâu có bắt buộc các bên phải có giấy thanh lý hợp đồng. Hợp đồng hết hạn thì đương nhiên chấm dứt. Thanh Trung có quyền ký một hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động mới.
Nói về "thanh lý ...hợp đồng" thì Khái niệm này trước đây xuất hiện trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, theo đó khi các bên chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng thì bắt buộc phải có biên bản thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên đến nay Pháp lệnh này cũng đã hết hiệu lực từ lâu. Quy định chung trong Luật Thương Mại hiện hành không bắt buộc các bên phải lập biên bản thanh lý hợp đồng. Việc Thanh lý hợp đồng hiện nay có lẽ chỉ còn bắt buộc trong hợp đồng gia công và hợp đồng đấu thầu.
Pháp luật dân sự (hiểu theo nghĩa hẹp) và lao động trước nay chưa hề tồn tại khái niệm này. Không lẽ quy chế bóng đá chuyên nghiệp lại có cái quy định ngược đời này???????
Việc Thanh Trung và CLB Bóng Đá Hà Nội ký biên bản ghi nhớ ngoài hợp đồng lao động theo đó khi hết thời hạn hợp đồng Thanh Trung và CLB Hà Nội sẽ ký tiếp hợp đồng mới. Nhưng đây chỉ là thỏa thuận dân sự, điều này chỉ ràng buộc Thanh Trung các quyền và nghĩa vụ dân sự (được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự) không hề ảnh hưởng đến việc đi hay ở của Thanh Trung (với tư cách là quyền của người lao động được điểu chỉnh bởi pháp luật lao động). Bản thân Đinh Thanh Trung cũng đâu có thực hiện cái biên bản ghi nhớ này như ý muốn của bầu Kiên, do vậy người đi kiện đáng lẽ phải là ông Kiên chứ? Hình như Thanh Trung cũng đang làm việc ngược đời thì phải????????.

23 tháng 2, 2012

Một Điều Luật Rất Dở!


Im Yoona
Luật Sư tập sự: Hoàng Văn Thạch

Cuộc chiến pháp lý tranh chấp bản quyền truyền hình giữa AVG, VFF với VPF đã “nguội dần” khi các bên đã chịu ngồi lại với nhau.
Tuy nhiên, khởi sự từ việc bầu Đức, bầu Kiên tuyên bố “VPF đã ký một biên bản ghi nhớ với VTV về việc VPF bán bản quyền truyền hình giải Vleague cho VTV với giá hơn 70 tỷ đồng cho 03 năm” nhà báo Hải Đăng của báo Vietnamnet đã cho rằng đây dù là một biên bản ghi nhớ thì cũng là trái luật, do khi ký biên bản này bản quyền truyền hình vẫn thuộc sở hữu của AVG, VPF chưa có quyền gì với bản quyền truyền hình cả. Nặng lời hơn khi bài báo còn mạnh miệng rêu rao rằng VPF đã “bán trời không văn tự” (nguồn: http://thethao.vietnamnet.vn/vn/v-league/11849/vpf-vung-tay-b--225-n-vit-troi-.html). Mặc dù đây là một bài viết của một “kẻ ngoại đạo” (chắc không phải chuyên gia pháp luật), nội dung mang tính đánh động dự luận nhằm câu lượng view hơn là phân tích pháp lý nhưng nó cũng gợi cho người đọc thấy nóng mắt và phải dở luật ra xem thực hư chuyện này là như thế nào?
Vậy thực chất biên bản ghi nhớ giữa VPF và VTV có phải là một biên bản trái pháp luật hay không? Tìm hiểu về vấn đề này thì thấy “lòi ra” trong Bộ luật dân sự (BLDS) một điều luật rất “ngang bướng”.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 125 BLDS “Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ”. Như vậy có thể thấy “biên bản ghi nhớ” giữa VPF và VTV ở đây thực chất chính là thỏa thuận về “điều kiện phát sinh giao dịch dân sự”. Trong đó “giao dich dân sự” là việc VPF bán bản quyền truyền hình cho VTV, còn “điều kiện phát sinh giao dịch” chính là khi VPF có được bản quyền truyền hình giải đấu Vleague. Điều kiện này trên thực tế là hoàn toàn có thể xảy ra, vì: VPF vẫn có quyền tiếp tục khiếu nại lên Thanh tra Chính phủ để xem xét lại kết luận của Thanh tra Bộ văn hóa – thể thao và du lịch, hoặc khởi kiện tại Tòa án để tuyên hợp đồng giữa VFF và AVG vô hiệu nhằm dành lấy bản quyền truyền hình phát sóng giải Vleague. Hoặc thậm chí VPF cũng có thể có được bản quyền truyền hình nếu AVG chấp nhận hủy hợp đồng và nhường lại cho VPF như lời ông Phạm Nhật Vũ đã từng hứa. Khi điều kiện đó xảy ra thì VPF phải có nghĩa vụ bán lại bản quyền cho VTV (hay VTV có nghĩa vụ phải mua lại) với giá đã được thỏa thuận trước như trong biên bản ghi nhớ (70 tỷ trong 03 năm). Nói tóm lại là thỏa thuận giữa VPF và VTV hoàn toàn được pháp luật thừa nhận.
Tuy nhiên Khoản 2 Điều 125 BLDS lại quy định “nếu có sự tác động của một bên hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra”. Nếu chiếu theo điều luật này thì điều kiện phát sinh giao dịch bán bản quyền truyền hình giữa VPF và VTV gần như chắc chắn sẽ bị cọi là không bao giờ xảy ra cả. Vì việc VPF có được bản quyền truyền hình hay không đều ít nhiều dựa vào các nổ lực chủ quan của họ (tức là đã tác động để thúc đẩy điều kiện phát sinh giao dịch xảy ra), không có chuyện bổng dưng AVG tự ý thanh lý hợp đồng và trả lại bản quyền truyền hình cho cho VPF mà không có bất cứ sự tác động nào từ VPF. Đây chắc chắn là một điều khoản rất dỡ, đi ngược lại với nguyên tắc tự do thỏa thuận (miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội được quy định tại Điều 4 BLDS) và không phản ánh được “hơi thở của cuộc sống”. Vì trong thực tế các bên có thể thỏa thuận điều kiện phát sinh giao dịch dân sự là điều kiện khách quan, nhưng cũng có rất nhiều trường hợp điều kiện phát sinh giao dịch là điều kiện chủ quan. VD: Ông A có thể thỏa thuận với ông B rằng nếu ngày mai Thành phố cấm trông giữ xe tại 262 tuyến phố tôi sẽ bán lại chiếc xe cadilac cho ông để sử dụng xe Bus (đây là điều kiện khách quan – ông B là công dân bình thường không thể can thiệt vào quyết định của UBND Thành phố). Tuy nhiên các bên cũng có thể thỏa thuận khi nào ông A xin được hộ khẩu tại Hà Nội thì ông B sẽ bán cho ông A căn nhà của ông B ở Hà Nội theo giá đã định. Với điều kiện này thì ông A buộc phải có những hành động để đáp ứng đủ tiêu chuẩn xin hộ khẩu tại Hà Nội, và khi đủ điều kiện rồi ông A còn phải thực hiện các thủ tục hành chính để yêu cầu cơ quan chức năng cho ông được nhập hộ khẩu, tức là có sự tác động để cho điều kiện phát sinh giao dịch xảy ra. Đó là những thỏa thuận hết sức chính đáng, nếu không được pháp luật chấp nhận thì thật vô lý.
Ngoài việc đi ngược lại nguyên tắc chung của BLDS và xa rời thực tế, điều khoản này còn “chỏi” nhau với Điều 470 BLDS về tặng cho tài sản có điều kiện và Điều 590 BLDS về hứa thưởng. Cụ thể Điều 470 quy định “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”, Điều 590 BLDS quy định “1. Người đã công khai hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng…2. Công việc được hứa thưởng phải cụ thể, có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội”. “Nghĩa vụ dân sự trước khi tặng cho” và “đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng” được nói đến trong 02 điều luật trên chính là các “điều kiện” để phát sinh các giao dịch (tặng cho và thưởng) theo như quy định chung về giao dịch dân sự tại Điều 125 BLDS. Tuy nhiên cả 02 điều luật này chỉ quy định “điều kiện phát sinh giao dịch” phải không được trái pháp luật và đạo đức xã hội, mà không hề quy định về việc có hay không tác động một bên hoặc bên thứ 3 cố ý thúc đẩy cho điều kiển làm phát sinh giao dịch dân sự xảy ra.
Một quy định rất ngang ngược như vậy nhưng đã sống được 07 năm tuổi. Hy vọng trong lần sửa đổi BLDS sắp tới (cũng như một loạt các luật khác)các nhà làm luật sẽ loại bỏ những “hạt sạn” kiểu như thế này ra khỏi đời sống pháp luật.



27 tháng 12, 2011

Sự kiện & Bình luận: Tuấn “tổng” vs Mubarak, SCAF vs VPF


Princexx Mahii
                                 Hoàng Thạch
11 tháng trước, ở một quốc gia cách Việt Nam 05 múi giờ, cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử đất nước của những Kim tự tháp đã khiến Nhà độc tài tham quyền cố vị Hosni Mubarak rời bỏ chính quyền sau bao lần thỏa hiệp bất thành và trao quyền điều hành đất nước cho Hộ đồng tối cao các lực lượng vũ trang (SCAF) – tổ chức hiện thân cho cuộc cách mạng của người Ai cập.
11 tháng sau ngay tại Việt Nam dưới sức ép đến từ cuộc “tổng tấn công” của dư luận, truyền thông và các ông bầu làm bóng đá đã khiến cho VFF với ekip lãnh đạo bị chỉ trích nhiều nhất từ trước đến nay chấp nhận trao lại quyền điều hành 02 giải bóng đá cao nhất của Việt Nam là Vleague và giải hạng nhất cho VPF (tổ chức do các ông bầu lập ra), đồng thời cuộc “nổi dậy” này cũng “đá văng” luôn chiếc ghế của ông Tuấn “tổng” dù VFF đã thể hiện tinh thần đoàn kết “mọi người vì mọi người” để gia cố nó bằng màn kịch “từ chức” vụng về trước đó ít ngày.
02 sự kiện khác nhau về quy mô nhưng na ná về kịch bản của khúc dạo đầu. Liệu hồi kết sẽ diễn ra như thế nào? Khi mà ở Ai cập giờ đây sự thất vọng đã bao trùm lên toàn bộ người dân, một cuộc biểu tình quy mô lớn nữa lại nổ ra ở đường phố Cairo vì những bất mãn trước cam kết không được thực hiện của SCAF. Mùa đông sang năm khi Vleague 2012 khép lại và AFF cúp đi qua liệu VPF (một tổ chức cũng được kỳ vọng rất nhiều sẽ mang lại những thay đổi theo hướng tích cực cho bóng đá Việt Nam) có trở thành cái bia để hứng chịu búa rìu dư luận và báo chí hay không?

19 tháng 3, 2011

Phân Biệt Tranh Chấp Kinh Doanh - Thương Mại & Tranh Chấp Dân Sự


Đặng Thị Mỹ Dung
Luật sư tập sự: Hoàng Văn Thạch

Trước đây khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 còn hiệu lực quy định chủ thể của hợp đồng kinh tế là pháp nhân với pháp nhân hoặc pháp nhân với cá thể có đăng ký kinh doanh Tuy nhiên sau này khi BLDS 2005 ra đời thay thế BLDS1995 và đồng thời khai tử luôn cả Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 và “xóa sổ” khái niệm “hợp đồng kinh tế. Tiếp sau đó là sự ra đời của Luật Thương Mại 2005 mà đối tượng áp dụng bao gồm cả các đối tượng điều chỉnh của PLHĐKT trước đây. Nhưng một vấn đề nảy sinh khiến nhiều luật gia tranh cải là khi nào thì được coi là “Tranh chấp kinh doanh thương mại” để ưu tiên áp dụng Luật Thương Mại và khi nào thì gọi là “Tranh chấp dân sự” để áp dụng triệt để Bộ luật dân sự 200. Liệu các quy định của pháp luật về vấn đề này đã rõ ràng?

Theo như quy định tại Điều 2 Luật thương mại 2005 thì đối tượng điều chỉnh của Luật Thương mại là thương nhân có hoạt động thương mại và tổ chức cá nhân khác hoạt động liên quan đến thương mại. Như vậy chiếu theo quy định này thì bất kỳ cá nhân, tổ chức nào tham gia hoạt động thương mại đều được điều chỉnh bằng Luật thương mại (Hoạt động thương mại theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương Mại 2005 là “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”). Khi đó tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể này sẽ được gọi là tranh chấp kinh doanh thương mại và cơ quan tòa án có thẩm quyền thụ lý là Tòa kinh tế. Tiếp đó tại Điều 29 BLDS lại quy định về các tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án gồm: “1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận…2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. 3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. 4. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định”. Tuy nhiên có lẽ một vài luật gia chỉ căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 nêu trên để nói rằng tranh chấp kinh doanh thương mại phải là tranh chấp giữa các chủ thể có đăng ký kinh doanh với nhau, hoặc phải đảm bảo cả 2 điều kiện là các bên vừa phải có đăng ký kinh doanh, vừa phải có mục đích lợi nhuận mà bỏ qua quy định tại Khoản 4 là “các tranh chấp khác về kinh doanh thương mại”. Vậy các “tranh chấp khác KDTM” ở đây là gì? Tại Điểm b Tiểu mục 1.1 Mục 1 – Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP quy định như sau: “Toà kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 và Điều 30 của BLTTĐS; các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận”. Từ đó có thể thấy các “tranh chấp khác về kinh doanh thương mại” ở đây chính là các tranh chấp giữa một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận, hay nói cách khác tranh chấp kinh doanh thương mại không bắt buộc phải tuân thủ điều kiện về chủ thể là phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ cần đảm bảo yếu tố là các bên đều có mục đích lợi nhuận. Thế nhưng thật khó hiểu là trên chuyện mục Tạp chí pháp luật của báo Pháp luật Tp Hồ chí minh số ra ngày 28/06/2010 đã đăng tải ý kiến đóng góp của một số Thấm phán tòa án ở khu vực phía nam về sửa đổi bộ luật Tố tụng dân sự, trong đó nội dung vẫn tranh cãi về một vấn đề đã quá rõ là tranh chấp kinh doanh thương mại do Tòa kinh tế thụ lý có nhất thiết phải đảm bảo điều kiện là các bên phải có đăng ký kinh doanh hay không? Có vị phó chánh án một tòa cấp tỉnh khăng khăng cho rằng phải đảm bảo cả 2 yếu tố là chủ thể phải đều có đăng ký kinh doanh và các bên có mục đích lợi nhuận thì mới được coi là tranh chấp kinh doanh thương mại, còn không thì đó là tranh chấp dân sự thông thường và yêu cầu TATC phải có văn bản hướng dẫn cụ thể ngay để TA địa phương áp dụng (tất nhiên là sẽ chẳng có thêm văn bản giải thích nào nữa từ TATC) – Nguồn http://phapluattp.vn/20100627115719401p0c1063/lung-tung-phan-dinh-an-dan-su-an-thuong-mai.htm

Cũng liên quan đến việc tham gia đóng góp ý kiến cho lần sửa đổi tới đây của BLTTDS 2004, mới đây 08/02/2011 cũng trên chuyên mục này báo còn đăng ý kiến của bà Tiến sĩ N.T.H.P Giảng viên ĐH Luật TPHCM, theo đó Tiến sĩ P tỏ ra rất bức xúc vì pháp luật tố tụng dân sự chưa cho phép luật sư tham gia phiên hòa giải, và yêu cầu cần phải bổ sung ngay điều luật quy định cho phép luật sư được tham gia phiên hòa giải trong lần sửa đổi tới, nghiêm trọng hơn bà Tiến sĩ còn đồng nhất cả khái niệm “luật sư” và “người đại diện của đương sự” (nguồn http://phapluattp.vn/20110207105026402p1063c1016/sua-doi-bo-luat-to-tung-dan-su-nen-cho-luat-su-tham-gia-phien-hoa-giai.htm). 
Tuy nhiên thì có thể thấy việc luật sư (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự chứ không phải là người đại diện cho đương sự) được tham gia phiên hòa giải trong tranh chấp dân sự đã được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 64 BLTTDS 2004 và có lẽ bất kể Luật sư nào có thâm niên trong nghề đều ít nhất từng một lần tham gia phiên hòa giải dân sự.
Theo quan điểm của cá nhân tôi, hiện nay cả BLTTDS và BLTTHS  có những điểm cần sửa đổi. Tuy nhiên cái chính là chỉ mong các cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ các quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích của người dân cũng như tôn trọng quyền của Luật sư. Thời gian gần đây trên các ấn phẩm pháp luật có đăng tải theo định kỳ các ý kiến đóng góp của một số luật gia cho công tác sửa đổi BLTTDS 2004, tuy nhiên thì những ý kiến này nhìn chung thiếu chất lượng, luẩn quẩn tạo ra một cuộc tranh luận không có hồi kết và người tham gia đóng góp ý kiến còn tỏ ra thiếu trách nhiệm với những phát biểu của mình.



22 tháng 10, 2010

"Truy Nã" Và Sự Tùy Tiện Của Cơ Quan Điều Tra



Luật Sư tập sự: Hoàng Văn Thạch
Phạm Thanh Tâm
Nhân chuyện CA Tp HCM có công văn yêu cầu CA các quận huyện rà soát lại các lệnh truy nã từ trước tới nay trên địa bàn. Báo pháp luật Tp HCM số ra 20/10/2010 đã có bài viết “chuyện oái ăm từ các lệnh truy nã” để phản ánh việc thiếu trách nhiệm của CQĐT khi ra các quyết định truy nã bị can, bị cáo…làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người bị truy nã. Tiếp nối đề tài trên, bài viết này tiếp tục nêu nên vấn đề sự tùy tiện của CQĐT (không chỉ trên địa bàn Tp HCM) trong việc ra các quyết định truy nã bị can
Truy nã là gì và khi nào bị can bị truy nã
Các văn bản pháp luật hiện hành không có định nghĩa thế nào là truy nã. Tuy nhiên về mặt ngôn ngữ thì “truy nã” được hiểu là toàn bộ các biện pháp mà cơ quan điều tra áp dụng để truy bắt bị can, bị cáo, người đang chấp hành hình phạt tù. Trước khi áp dụng biện pháp “truy nã” thì cơ quan điều tra phải ra một văn bản gọi là “quyết định truy nã bị can (bị cáo, hoặc người đang chấp hành hình phạt tù)” quyết đinh này sẽ được thông báo lên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phát hiện, bắt giữ người bị truy nã..
Vậy khi nào thì bị can bị truy nã. Điều 161 BLTTHS quy định “Khi bị can trốn hoặc không biết bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị can”.
“bỏ trốn” ở đây được hiểu là bị can đã có những hành vi đánh lừa cơ quan điều tra thể hiện qua việc thay đổi các thông tin liên quan đến danh tính, đặc điểm nhận dạng bị can khiến các cơ quan bảo vệ pháp luật ko biết được. “bỏ trốn” cũng được hiểu là việc bị can biết mình sẽ bị cơ quan điều tra triệu tập hoặc đã bị cơ quan điều tra triệu tập mà cố tình lẫn tránh bằng việc đi khỏi nơi cư trú đến một nơi khác để ẩn nấp mà không khai báo tạm trú, tạm vắng.
“Không biết bị can đang ở đâu” nghĩa là danh tính bị can đã được xác định rất rõ nhưng sau khi cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại gia đình, địa phương nhưng không biết hiện bị can đang ở đâu để triệu tập và bị can cũng không hề biết mình đã bị khởi tố bị can cũng như đang bị CQĐT triệu tập.
Không xác minh đến nơi đến chốn đã vội vàng ra quyết định truy nã.
Như trên đã phân tích thì cơ quan điều tra muốn khẳng định không biết bị can đang ở đâu thì trước tiên phải tiến hành xác minh cụ thể tại gia đình cũng như địa phương để nắm bắt thông tin về bị can. Nếu như chưa làm đầy đủ những biện pháp cơ bản trên nhằm nắm bắt thông tin về bị can thì chưa thể khẳng định “không biết bị can đang ở đâu” được.
Bị can TTX bị cơ quan điều tra tỉnh BN khởi tố bị can về tội “tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép” quy định tại Điều 275 BLHS. Theo như quy định tại Điều 49 BLTTHS thì bị can có quyền được nhận “quyết định khởi tố” đồng thời có nghĩa vụ “có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, VKS”. Vậy để bị can có thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình thì cơ quan điều tra phải tống đạt các loại giấy tờ này tới bị can. Do lúc này bị can hiện đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài nên không có mặt tại đia phương, cơ quan điều tra tỉnh BN đã về địa phương xác minh xem bị can TTX hiện đang cư trú ở đâu. Thế nhưng điều đáng nói là mặc dù trong quyết định khởi tố bị can HKTT và “Chổ ở” của bị can đã được thể hiện rất cụ thể và ở cả hai địa phương khác nhau nhưng CQĐT chỉ có các biên bản xác minh và biên bản làm việc với phía chính quyền sở tại nơi ĐKHKTT của bị can, mà cụ thể là làm việc với phó trưởng CA phường và Cảnh sát khu vực nơi bị can cư trú mà không hề làm việc với chính quyền nơi bị can có “chổ ở” (như thể hiện trong quyết định khởi tố bị can) cũng như làm việc với gia đình bị can để nắm bắt thông tin cụ thể về nơi cư trú hiện tại của bị can. Trong hồ sơ vụ án cũng không thấy có biên bản xác minh giữa CA phường nơi ĐKHKTT của bị can với gia đình bị can nhưng trong biên bản làm việc giữa Điều tra viên và Phó trưởng CA phường, Cảnh sát khu vực lập ngày 17/02/2009 lại trích dẫn “lời khai” của chồng bị can là không biết địa chỉ cụ thể của bị can, mà chỉ biết bị can đang ở Macau – Trung Quốc, thỉnh thoảng có về Hà Nội thăm hai con gái (đang học trên Hà Nội) - vậy CA phường căn cứ vào đâu để khẳng định đó là lời xác minh của chồng bị can? Lời xác minh đó được lấy khi nào, ở đâu? Thậm chí ngay cả khi đã lấy “lời khai” của chồng bị can mà vẫn không thể xác minh được địa chỉ của bị can thì trong thẩm quyền và khả năng của mình CQĐT vẫn còn có thể làm việc với những người thân khác của bị can như bố - mẹ, các con bị can...hoặc gửi công văn yêu cầu Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Macau, Hồng Kông xác minh hộ. Nếu chưa làm được những việc đó thì CQĐT đã chưa đảm bảo tốt cho bị can thực hiện quyền cũng như nghĩa vụ của mình, CQĐT chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình.
Hậu quả từ việc ra quyết định truy nã một cách thiếu trách nhiệm
Sau khi có biên bản làm việc và xác minh từ Công An phường, CQĐT đã khẳng định hiện không biết bị can đang ở đâu và ra quyết định truy nã bị can đối với TTX.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì quyết định truy nã sẽ đươc đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chung và bất kể ai cũng có thể bắt giữ người đang bị truy nã.
Hậu quả xuất phát từ những việc trên là bị can sẽ bị hoang mang, mất tinh thần khi đọc được quyết định truy nã mà đáng ra nếu cơ quan điều tra làm có trách nhiệm hơn thì họ đã có thể tiếp nhận các giấy tờ tống đạt của cơ quan điều tra và đến trình diện theo pháp luật nhằm làm rõ sự việc mà không phải bị “phơi mặt” trên báo đài cho bàn dân thiên hạ biết.
Ngoài ra thì việc họ hoàn toàn có thể bị bắt bất cứ lúc nào, ở đâu, bởi bất kỳ ai. Do vậy điều này nằm ngoài những dự tính của người bị truy nã và nó ảnh hưởng nghiêm trong tới công việc hằng ngày của họ cũng như việc bổng dưng bị bắt giữa thanh thiên bạch nhật còn làm cho danh dự, uy tín của họ bị xâm phạm nặng nề.
Kiến nghị:
Để việc “truy nã” vừa đảm bảo được mục đích của nó là truy bắt người bị truy nã (bị can, bị cáo, người đang chấp hành hình phạt tù) đồng thời đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của họ thì ngoài việc cơ quan điều tra cần làm hết trách nhiệm của mình trước khi ra quyết định truy nã, pháp luật cũng cần có những quy phạm quy định cụ thể về việc xác minh địa chỉ của bị can trước khi ra quyết định truy nã. Bởi từ khi ra đời bộ luật TTHS 2004 thì chưa co một văn bản nào quy định cụ thể về chế định truy nã. Trước đây, liên quan đến BLTTHS 1988 thì cũng có thông tư liên ngành số “03/TTLN giữa TANDTC, VKSNDTC, BNV thực hiện một số quy định về truy nã bị can, bị cáo trong giai đoạn truy tố, xét xử” nhưng ngay cả thông tư này cũng không điều chỉnh việc truy nã trong giai đoạn khởi tố, cũng nhưa chưa quy định trách nhiệm của CQĐT trong việc xác minh nơi cư trú của bị can.

13 tháng 10, 2010

Bàn về hành vi "man rợ" của Nguyễn Đức Nghĩa


Luật sư tập sự: Hoàng Văn Thạch
Ai đây?
Thời gian gần đây báo chí đang tốn rất nhiều giấy mực về việc Nguyễn Đức Nghĩa kháng cáo. Phần lớn là lên tiếng chỉ trích hành vi kháng cáo của anh này. Còn giới luật thì đang tranh cãi về vấn đề Nguyễn Đức Nghĩa có bị coi là “thực hiện tội phạm một cách man rợ”? Bởi đây là một tình tiết định khung tăng nặng TNHS rất quan trọng, quy định tại Điểm i – K1 – Điều 93 BLHS (tội giết người) nó ảnh hưởng khá nhiều đến việc HĐXX tuyên Nguyễn Đức Nghĩa hình phạt tử hình, nếu thoát được tình tiết này thì khả năng sống của Nghĩa tăng lên được một chút (dù không đáng bao nhiêu). Phe ủng hộ việc coi Nghĩa đã “thực hiện tội phạm (giết người) một cách man rợ” có thể liệt kê ra đây như: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm xét xử Nghĩa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm, Luật gia Nguyễn Sơn với bài viết trên báo đời sống pháp luật, gần đây có thểm Luật sư Ngô Ngọc Trai cũng đã đăng đàn trên báo Dantri.com thể hiện quan điểm của mình, ngoài ra có thể kể đến Tiến Sĩ Phạm Văn Beo (ĐH Cần Thơ) – quan điểm này được ông thể hiện trong cuốn Giáo Trình Luật Hình Sự phần riêng – Cần Thơ 2008)...và còn nhiều những người khác nữa. Phe phản đối cho rằng Nghĩa không “thực hiện tội phạm (giết người) một cách man rợ” theo như tôi biết thì có thể kể ra 2 người là Luật Sư Ngô Ngọc Thủy, tác giả Lê Trung Vũ (Đồng Nai) với bài viết đăng trên báo Đời sống & Pháp Luật số ra ngày 14/08/2010...tuy nhiên có điều chắc chắn thì phe này ít hơn nhiều.
Nhân đây, với tư cách là một người học Luật và đang hành nghề Luật tôi xin nêu ra quan điểm cá nhân của mình để bàn thêm về việc hành vi của Nghĩa có thể coi là “thực hiện tội phạm một cách man rợ” hay không? Bởi tôi đã được đọc ở đâu đó quan điểm của Luật sư Thủy cũng như những người khác bày tỏ quan điểm cho rằng Nghĩa không “thực hiện tội phạm một cách man rợ” nhưng thực sự tôi thấy cách lập luận của họ chưa sâu, thật sự thuyết phục, quanh đi quẩn lại vẫn chỉ là “do nghĩa thực hiện hành vi cắt cổ, cắt mười đầu ngón tay nạn nhân sau khi nạn nhân đã chết nên không thể coi là thực hiện tội phạm một cách man rợ” (tất nhiên quan điểm đầy đủ của Luật sư Thủy tại phiên tòa thì tôi không được nghe, mà chỉ đọc ở một số tờ báo họ trích lại như thế).
Man rợ là gì?
Trước tiên về mặt ngữ nghĩa thì chẳng cần dở từ điển ai cũng hiểu “man rợ” có nghĩa là “tàn ác, tàn bạo đến mức mất tính người”. Soi vào hành vi “cắt đầu thi thể nạn nhân và 10 đầu ngón tay rồi đem xác lên tầng thượng phi tang” rõ ràng là “man rợ”. Còn hành vi “đâm 2 nhát dao” làm nạn nhân tử vong thì không thể coi là “man rợ” được, nếu coi vậy thì 90% các vụ giết người là “man rợ”.
Về mặt ngữ pháp: cụm từ “thực hiện tội phạm một cách man rợ”, trong đó “một cách man rợ” sẽ bổ nghĩa cho “thực hiện tội phạm”. Như vậy “man rợ” và “tội phạm” phải gắn liền với nhau, không thể lấy “tội phạm” ở một hành vi giết người gắn với “man rợ” ở hành vi khác để buộc tội người ta là “thực hiện tội phạm (giết người) một cách man rợ” được. Mấu chốt của vấn đề nằm ở chổ này. Như đã phân tích ở trên Nghĩa đã có hành vi “man rợ”, Nghĩa cũng đã thực hiện “tội phạm” – điều này khỏi phải bàn cãi nhiều. Bây giờ muốn gỡ tội cho Nghĩa (tội giết người một cách man rợ) thì chỉ việc chứng minh cho việc trong trường hợp này “man rợ” không bổ nghĩa cho “tội phạm” giết người, mà bổ nghĩa cho một “tội phạm” khác.
Thế nào là "tội phạm"?
Vậy chứng minh như thế nào? Muốn vậy ta phải hiểu thế nào là “tội phạm”. Vậy “tội phạm” là gì? K1 – Điều 8 BLHS quy định “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Có thể dễ dàng nhận thấy để thòa mãn là “tội phạm” phải có đầy đủ các điều kiện sau: 1-hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, 2-do người có NLTNHS thực hiện, 3-xâm phạm đến một trong các khách thể nêu trên. Mà ở đây người ta đang buộc tội Nghĩa giết người với tình tiết “thực hiện tội phạm (giết người) một cách man rợ” thì hành vi “tội phạm” được nói đến trong cụm từ đó phải xâm phạm đến “tính mạng” chứ không thể xâm phạm đến các khách thể khác (danh dự, chính trị, lĩnh vực khác…), nhưng con người thì chỉ có một mạng, 2 nhát dao của Nghĩa đã làm nạn nhân chết mất rồi, có nghĩa là “tính mạng” không còn nữa, vậy thì cái hành vi “cắt cổ và 10 đầu ngón tay” được coi là man rợ đó đâu có xâm phạm đến tính mạng, mà hành vi đó không xâm phạm đến tính mạng thì đó không thể là “tội phạm giết người” (2 nhát dao làm nạn nhân chết mới được coi là “tội phạm giết người”) vậy nên cũng không phải là “thực hiện tội phạm giết người một cách man rợ”. Việc một số người cho rằng hành vi chặt xác nạn nhân sau khi nạn nhân chết cũng được coi “thực hiện tội phạm (giết người) một cách man rợ” tôi cho rằng hiểu như vậy là làm “méo mó” pháp luật. Hành vi của Nguyễn Đức Nghĩa thực hiện quả thực rất ghê rợn, theo suy nghĩ chủ quan của tôi và rất nhiều người thì thực sự mà nói là “đáng chết”. Tuy nhiên cũng không vì thế mà chúng ta là mất đi sự khách quan của pháp luật. HĐXX vẫn có thể tước đi sinh mạng của Nguyễn Đức Nghĩa dù anh ta không bị coi là “thực hiện tội phạm (giết người) một cách man rợ”, bởi vì Nghĩa vẫn còn bị “ràng buộc” với K1 – Điều 93 (có khung hình phạt cao nhất đến tử hình) đó là giết người “vì động cơ đê hèn” (giết người để cướp tài sản) theo điểm q – K1 – Điều 93 (nếu Nghĩa giết người vì ghen tuông) hoặc giết người "để thực hiện hoặc che dấu tội phạm khác" theo điểm g - K1 - Điều 48 (nếu Nghĩa giết người để cướp tài sản), bên cạnh đó Nghĩa còn phạm tội cướp tài sản và một tội nữa mà tội sẽ phân tích dưới đây.
Nghĩa còn phạm tội khác?
Như trên đã phân tích thì hành vi man rợ “cắt cổ và 10 đầu ngón tay nạn nhân” của Nghĩa không xâm phạm đến khách thể “tính mạng” nên không thể coi đó là “thực hiện hành vi tội phạm (giết người) một cách man rợ”, vậy hành vi “man rợ” đó có phải là “tội phạm” không, nếu có thì nó xâm phạm đến khách thể nào? Phạm vào tội gì?.
Xác người đã chết chúng ta gọi đó là “thi thể”, vậy “thi thể” có được coi là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ? Nó chính là “..lĩnh vực khác…” mà K2 – Điều 8 đã quy định. Cụ thể tại Điều 246 có quy định về tội “xâm phạm thi thể, mồ mã, hài cốt”, trong đó quy định “người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”. Hành vi chặt xác nạn nhân của Nghĩa là xâm phạm đến thi thể của người đã chết, như vậy hành vi “man rợ” của Nguyễn Đức Nghĩa đã phạm vào tội “xâm phạm thi thể” (chứ không phải tội giết người “man rợ”).
Ngoài ra thì nếu CQĐT chứng minh được Nghĩa giết người để cướp tài sản thì Nghĩa còn phạm vào tội Cướp tài sản - Điều 133 BLHS.
Tóm lại, Nghĩa phạm 2 tội: Giết người, xâm phạm thi thể hoặc có thể thêm cả tội Cướp tài sản nữa. Nghĩa không phạm tội giết người với tình tiết “thực hiện tội phạm một cách man rợ” theo điểm I – K1 – Điều 93 BLHS.