9 tháng 2, 2015

Luận Cứ Bào Chữ Cho Anh Minh Trong Vụ Con Ruồi 500 Triệu


                                                                                              
Trần Thị Kim Ngân
                                       Luật sư Hoàng Văn Thạch

Vụ con ruồi 500 triệu của anh Võ Văn Minh và Công ty Tân Hiệp Phát đang gây xôn xao dư luận với nhiều quan điểm khác nhau. Mình cũng xin góp vài quan điểm theo hướng bào chữa cho Võ Văn Minh.
1.            Môt bên đưa ra chai Number One có con ruồi đổi lấy 500 triệu. Tức là có sự trao đổi tài sản -> Bản chất là hợp đồng mua bán tài sản. Ở đây các bên đã giao kết bằng hợp đồng miệng.
Cái quần lót của Elvis Presley từng được đấu giá với giá khởi điểm 10.000 Bảng Anh thì không có lý gì cái chai nước có con ruồi lại không có giá 500 triệu cả. Giá là do các bên thỏa thuận. Cái quần của Presley có gái 10.000 Bảng vì nó khác với vô số cái quần lọt khác là nó được mặc bởi một ca sĩ nổi tiếng. Chai number one có giá 500 triệu vì nó khác với các chai nước khác là có con ruồi.
Nếu anh Minh đang cần tiền để chữa bệnh cho vợ và anh ra giá 1 tỷ đồng. THP biết điều này nên nói nếu anh không lấy 500 triệu để sớm chữa bệnh cho vợ thì vợ anh sẽ ….vv. Vì lo sợ sự việc như vậy nên anh Minh đã hạ giá xuống 500 triệu để sớm lấy tiền. Liệu THP có hành vi dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt chai nước Number One của anh Minh không? – Không, vì anh THP đã đưa cho anh 500 triệu rồi. Theo chiều người lại, anh Minh đã đưa tài sản của mình là chai nước cho THP nên anh Minh không cưỡng đoạt 500 triệu của THP.
2.            Việc anh Minh “đe dọa” đưa chai nước ra công chúng đó là quyền của người tiêu dùng, quyền của chủ sở hữu tài sản. Một hành vi hợp pháp không thể coi là “thủ đoạn” để mà uy hiếp tinh thần.
         Một cô gái đòi người yêu phải chu cấp 10 triệu một tháng nếu không sẽ bỏ rơi anh. Lo bị người yêu bỏ rơi nên anh kia đã thu xếp đưa cho cô10 triệu đồng. Cô gái liệu có bị nguy cơ bị Công an gô cổ lại vì hành vi cưỡng đoạt tài sản? - Ko, vì bỏ là quyền của cô ta.

A muốn ly hôn vơi B để lấy C. Tai buổi hoà giải sơ thẩm B nói nếu A không chia thêm cho B 10 triệu trong khối ts mà B cho rằng là tài sảnchung thì vụ án sẽ còn kéo dài, xong sơ thẩm B sẽ kháng cáo phúc thẩm. Ít nhât 3 - 4 tháng nữa A mới ly hôn xong. Còn nếu đồng ý thì 7 ngày sau sẽ có quyết định ly hôn. Thẩm phán cũng khuyên A nên nhường nhịn B một chút để vụ việc sớm được giải quyết. Cả B cũng như A đều biết rằng yêu cầu đó là vô lý vì đấy là tài sản riêng của A và nếu giải quyết theo đúng quy định thì A không phải chia đồng nào cả nhưng vì lo sợ vụ án kéo dài mà A đang muốn kết hôn với C nên đã đồng ý chia cho B 10 triệu.
           B có hành vi cưỡng đoạt tài sản không? Nếu B có hành vi phạm tội thì Thẩm phán có phạm tội này với vai trò là xúi giục hay giúp sức không? – Không, vì họ toàn nói đúng, họ chẳng nói gì sai cả. Đó là quyền của họ nên không coi là “thủ đoạn” uy hiếp tinh thần.
 A và B có thời gian yêu nhau và đã quay lại những cảnh nóng giữa hai người. Sau này A nói với B nếu không đưa cho A 10 triệu đồng A sẽ cho người khác xem nội dung thước phim này. A có phạm tội cưỡng đoạt không? - Có, vì thước phim đó là đời tư của A, B; A không có quyền cho người khác xem.

          A nhặt được túi xách của B trong đó có một số giấy tờ quan trọng. A gọi cho B và đòi tiền chuộc là 10 triệu đồng. A có hành vi cưỡng đoạt tài sản không - Có, vì theo pháp luật dân sự, nhặt được của rơi phải trả lại. A không có quyền yêu cầu B phải chuộc lại.
3.            Việc anh Minh cam kết giữ bí mật về sự việc nếu THP bỏ ra 500 triệu chẳng qua là điều khoản Bảo Mật trong hợp đồng.
Pháp luật hợp đồng cho phép các bên có điều khoản bảo mật. Vì vậy việc giao kết hợp đồng kèm theo điều khoản anh Minh sẽ không tiết lộ sự việc ra công chúng là hoàn toàn hợp pháp

(Một số quan điểm mà mình không đồng tình:
1.            Quan điểm của LS bào chữa cho anh Minh:(Đăng trên báo điện tử giaogiucvietnam ngày 07.02.2015)
Điều 135 BLHS quy định “dùng thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần người khác”. Vì có từ “người khác” nên Luật sư cho rằng đây là cá nhân. Còn THP là tổ chức không phải là “cá nhân”; nếu là cá nhân đại diện cho Tổ chức thì phải là Ban lãnh đạo.
Quan điểm này sai lầm nghiêm trọng vì hiểu luật một cách máy móc và nặng về câu từ. Công ty THP cử người xuống thương lượng với anh Minh nghĩa là người được cử xuống đang đại diện cho cty THP. Do vậy uy hiếp tinh thần của người này chính là uy hiếp THP.
Hậu quả: Tội cướp tài sản cũng dùng từ chỉ dùng từ “người” chứ không có từ “tổ chức. Vậy nên nếu có nhóm tội phạm vào cướp ngân hàng thì chúng tìm đến thằng nào đang quản lý tiền chúng cướp. Chúng không có thời gian chạy lên phòng giám đốc. Do vậy chúng không dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc với Ban lãnh đạo Ngân hàng nên chúng không phạm tội cướp và chả phạm tội gì cả. Hàng trăm vụ án ở Việt Nam bị Giám đốc thẩm và hủy hết.
2.            Quan điểm cho của Ls ĐVC cho rằng anh Minh phạm tội: (Đăng trên bao soha.vn ngày 09.02.2015)
Để bảo vệ quan điểm của mình Ls đã bỏ qua chi tiết anh Minh là Chủ sở hữu chai nước. Luật sư tập trung vào việc cho rằng con ruồi không phải là tài sản nên không phải là đối tượng mua bán. Nhưng thực tế anh Minh bán chai nước có con ruồi chứ không phải người ta bán con ruồi trong chai nước. THP lấy cả chai nước chứ có lấy mình con ruồi đâu. Nó cũng giống như việc bên Anh người ta bán cái quần lót của Elvis Presley vậy.)

Nhưng nói gì thì nói, tay Minh này đòi 500 triệu thì tham quá!



15 tháng 12, 2014

BÌNH LUẬN: Một Quy Định Khó Hiểu Về Đánh Giá Lại Tài Sản Cố Định


Takei Emi
Luật sư: Hoàng Văn Thạch
Điểm a Khoản 4 Điều 4 Thông tư 45/2013/TT-BTC quy định về khấu hao tài sản cố định khi quy định về đáh giá tài sản cố định có quy định như sau:
Đánh giá lại giá trị TSCĐ trong các trường hợp:
-  Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Thực hiện tổ chức lại doanh nghiệp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê, chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần, chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn.
-  Dùng tài sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp.”
Như vậy theo quy định thì có 03 trường hợp phải đánh giá lại giá trị tài sản cố định tương ứng với 03 gạch đầu dòng nói trên. Trong đó gạch đầu dòng thứ 2 lại quy định thành 03 trường hợp phải đánh giá lại TSCĐ, bao gồm: 1/ tổ chức lại doanh nghiệp, 2/ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, 3/ chuyển đổi hình thức doanh nghiệp. Trong 03 trường hợp này thì Thông tư tiếp tục chia nhỏ thành nhiều trường hợp cụ thể gồm: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê, chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần, chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn.
Quy định này có một số điểm không đảm bảo các nguyên tắc khi xây dựng văn bản pháp luật. Cụ thể
1.      Thứ nhất: Quy định đưa ra 03 trường hợp phải đánh giá lại tài sản cố định gồm: 1/ tổ chức lại doanh nghiệp, 2/ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, 3/ chuyển đổi hình thức doanh nghiệp.
Tại Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh Nghiệp quy định “Tổ chức lại doanh nghiệp việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi doanh nghiệp”.
Và cũng theo Luật doanh nghiệp thì quy định về “chuyển đổi doanh nghiệp” nằm trong Chương VIII về “Tổ chức lại doanh nghiệp, phá sản, giải thể doanh nghiệp”
Như vậy “tổ chức lại doanh nghiệp” đã bao gồm việc “chuyển đổi doanh nghiệp” (hay cách gọi khác là chuyển đổi hình thức doanh nghiệp). Tuy nhiên quy định trên lại xếp chúng ngang hàng theo kiểu liệt kê dẫn đến cách hiểu chuyển đổi hình thức doanh nghiệp” và “tổ chức lại doanh nghiệp” là 02 trường hợp khác nhau.
Kết luận: Không đảm bảo tính thống nhất.
2.    Thứ hai: Trong 03 trường hợp phải đánh giá lại tài sản cố định như nêu trên quy định tiếp tục liệt kê một loạt các trường hợp nhỏ trong 03 trường hợp đó, gồm: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê, chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần, chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn”
 Trong các trường hợp được quy định liệt kê thì có hai trường hợp “khoán, cho thuê” không rõ ý của Nhà làm luật vì không rõ “khoán” và “cho thuê” cái gì? Vì 02 trường hợp này không thuộc bất kỳ trường hợp nào trong 03 trường hợp 1/ tổ chức lại doanh nghiệp, 2/ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, 3/ chuyển đổi hình thức doanh nghiệp.
Quy định này trong thực tế đã dẫn đến cách hiểu khác đi rằng đây là trường hợp khoán và cho thuê tài sản. Tuy nhiên việc khoán và cho thuê tài sản cũng không thuộc 03 trường hợp 1/ tổ chức lại doanh nghiệp, 2/ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, 3/ chuyển đổi hình thức doanh nghiệp. Ngoài ra nếu hiểu như vậy cũng không phù hợp với hướng dẫn tại Tài khoản kế toán 412, không phù hơp với pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
Kết luận:    Không đảm bảo tính hợp pháp.
Đây là quy định đã tồn tại nhiều năm, qua nhiều đời văn bản. Nhưng lỗi này vẫn không được khắc phục. Văn bản thay thế kế thừa y nguyên quy định của văn bản trước đó.

11 tháng 9, 2014

Bất Cập Điều Kiện Cho Thuê Văn Phòng, Nhà Xưởng Dư Thừa.

Trương Thị Thu Hiền
Luật sư Hoàng Văn Thạch
Trong hoạt động của các Doanh nghiệp việc không sử dụng hết nhà văn phòng hoặc nhà xưởng là điều bình thường, nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn. Vì vậy nhu cầu cho thuê lại một phần tòa nhà làm việc hoặc nhà xưởng trong thời gian vừa qua là rất phổ biến. Tuy nhiên việc cho thuê lại tài sản này có được phép hay không? Cần phải đảm bảo điều kiện gì?
Tài sản xây trên đất thuê trả tiền hàng năm thì không được phép cho thuê lại?
Trước tiên nói về việc pháp luật cho phép doanh nghiệp được cho thuê lại tài sản đó không. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào doanh nghiệp đang sử dụng đất dưới hình thức gì?
Trước đây khi Luật đất đai 2003 quy định tổ chức kinh tế sử dụng đất dưới hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc sử dụng đất dưới hình thức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc thuê đất trả tiền cho toàn bộ thời gian thuê (tiền không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước) thì đều có quyền cho thuê tài sản đã đầu tư trên đất. Tuy nhiên một hình thức sử dụng đất rất phổ biết của các tổ chức kinh tế hiện nay là thuê đất trả tiền hàng năm thì trong Luật đất đai 2003 không liệt kê quyền được cho thuê lại tài sản trên đất (nhưng lại có quyền chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp).
Có lẻ do bất cập này mà 03 năm sau khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành thì Nghị định 84/2007/NĐ-CP mới bổ sung quyền được cho thuê lại tài sản trên đất đối với tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm (Điều 22), đây được coi như là một “phụ lục” để bổ sung cho những quyền còn chưa được ghi nhận tại Luật đất đai 2003. Quy định đã rõ như vậy nhưng trên thực tế khi tiếp xúc với một số chuyên viên cơ quan Tài nguyên & Môi trường, Thuế quan điểm của họ vẫn không thừa nhận việc quyền cho thuê lại tài sản trên đất thuê trả tiền hàng năm và coi đây là hành vi sử dụng đất sai mục đích đề hù dọa doanh nghiệp. Khi viện dẫn Điều 22 Nghị định 84/2007/NĐ-CP thì cơ quan Nhà nước cho rằng chưa có hướng dẫn cụ thể nên không dám triển khai và thực tế ngay cả ngành Tòa án cúng có suy nghĩ tương tự. Trong một bản án kinh doanh thương mại người viết từng tham gia ở cả cấp Sơ thẩm tại TAND tỉnh Nghệ An và Phúc thẩm tại TAND Tối Cao đều xác định việc cho thuê lại tài sản trên đất là trái mục đích sử dụng mà không hề xem xét hay giải thích được quy định tại Điều 22 Nghị định 84/2007/NĐ-CP.
Những tưởng quyền này sẽ được bổ sung khi Luật đất đai 2003 được thay thế tuy nhiên theo Luật đất đai 2013 quyền cho thuê lại tài sản trên đất thuê trả tiền hàng năm vẫn t không được ghi nhận và Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2013 và thay thế Nghị định 84/2007/NĐ-CP cũng không kế thừa quy định này, chỉ nhắc đến quyền góp vốn, thế chấp và bán tài sản trên đất. Điều này khiến quyền cho thuê lại tài sản trên đất đã đầu tư của tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm trở nên không có cơ sở pháp lý. Vì vậy hàng loạt giao dịch cho thuê lại văn phòng và nhà xưởng hay bất kỳ một công trình trên đất nào của các tổ chức sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm đang trong tình trạng không rõ ràng về tính pháp lý.  
Điều kiện về ngành nghề để cho thuê lại nhà xưởng và văn phòng dư thừa.
Ngoài điều kiện về hình thức sử dụng đất còn một điều kiện khác nữa chưa thực sự rõ ràng khi một tổ chức kinh tế cho thuê lại tài sản trên đất đó là điều kiện về ngành nghề kinh doanh. Câu hỏi có nhất thiết phải bổ sung nghành nghề kinh doanh bất động sản thì mới được cho thuê lại nhà xưởng, văn phòng dư thừa hay không cũng nhận được những câu trả lời rất mâu thuẫn.
Năm 2007 cả Bộ xây dựng và Bộ kế hoạch đầu tư khi ban hành các công văn số 2533/BXD-QLN ngày 28.11.2007 do Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam ký và Công văn số 7269/BKH-KCN&KCX ngày 05.10.2007 trả lời về việc cho thuê lại nhà xưởng, văn phòng dư thừa trong Khu công nghiệp đều khẳng định các Doanh nghiệp trong khu công nghiệp khi cho thuê nhà xưởng, nhà văn phòng dư thừa đều phải đáp ứng đủ điều kiện về ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản, tức là phải bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản thì mới được thực hiện hoạt động cho thuê lại nhà xưởng, văn phòng dư thừa. Có thể mở rộng quy định này cho cả những doanh nghiệp hoạt động ngoài Khu công nghiệp vì cơ chế về ngành nghề kinh doanh là hoàn toàn như nhau.
Đến năm 2011 Bộ kế hoạch đầu tư tiếp tục có Công văn 5620/BKHĐT-QLKKT gửi Ban quản lý các khu công nghiệp Tây Ninh khẳng định việc cho thuê lại nhà xưởng, văn phòng dư thừa chỉ được thực hiện khi đã bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên năm 2013 Bộ xây dựng có Công văn số 64/BXD-QLN trả lời Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Long An do Cục trưởng Cục quản lý nhà và thị trường Bất động sản Nguyễn Mạnh Hà ký lại thể hiện quan điểm hoàn toàn ngược lại với 03 công văn nêu trên, nội dung thể hiện “Các tổ chức, cá nhân xây dựng nhà xưởng để sản xuất kinh doanh, nhưng gặp khó khăn hoặc dư thừa diện tích nhà xưởng và cho thuê các diện tích nhà xưởng này thì không phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã và đăng ký kinh doanh bất động sản. Khi các tổ chức, cá nhân cho thuê nhà xưởng thì phải có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ về thuế theo quy định pháp luật đối với hoạt động cho thuê”. Cơ sở của quan điểm này cho rằng việc cho thuê xuất phát từ việc Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc dư thừa về diện tích không sử dụng hết nên mới cho thuê, mục đích không phải là sinh lợi nên không phải đăng ký kinh doanh bất động sản.
Quan điểm cho phép Doanh nghiệp có nhà xưởng, văn phòng dư thừa được phép cho thuê lại mà không bắt buộc phải đăng ký ngành nghề kinh doanh bất động sản là quan điểm có lợi cho Doanh nghiệp. Vì trên thực tế có những Doanh nghiệp vì lý do kinh tế họ phải thu hẹp quy mô sản xuất dẫn đến dư thừa văn phòng hoặc nhà xưởng thì việc cho thuê để bù đắp chi phí cho doanh nghiệp là nhu cầu rất chính đáng, nếu yêu cầu họ bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản thì không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được điều kiện về vốn pháp định 06 tỷ đồng trong khi họ đang gặp khó khăn về tài chính đến mức phải thu hẹp quy mô kinh doanh hoặc có những Doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực chuyên doanh…thì việc bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản là bất khả thi. Ngược lại việc quy định việc cho thuê văn phòng, nhà xưởng dư thừa bắt buộc phải bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản có phần hơi cứng nhắc đối với những doanh nghiệp đang gặp khó khăn phải thu hẹp quy mô sản xuất; nhưng ngược lại nó lại tránh tình trạng Doanh nghiệp cố tình tạo ra nhà xưởng và văn phòng dư thừa để hoạt động kinh doanh bất động sản mà không cần phải đăng ký ngành nghề nhất là trong bối cảnh khi dự thảo luật Kinh doanh bất động sản 2014 được chốt lại để trình lên Quốc hội quy định vốn pháp định không thấp hơn 50 tỷ đồng..
Việc mâu thuẫn trong nội dung hướng dẫn (dù chỉ là mang tính tham khảo của các cơ quan quản lý Nhà nước khác nhau hay trong cùng một cơ quan) khiến việc Doanh nghiệp lúng túng trong việc thực hiện. Thực tế hành nghề người viết đã từng chứng kiến những Doanh nghiệp không có hoạt động kinh doanh bất động sản vẫn ký hợp đồng cho thuê nhà xưởng, văn phòng dư thừa và vẫn có Công chứng viên chấp nhận công chứng hợp đồng cho thuê này. Điều này rõ ràng tạo ra không ít rủi ro cho các Doanh nghiệp đang tham gia các giao dịch cho thuê nhà xưởng, văn phòng dư thừa nếu bên cho thuê không có ngành nghề kinh doanh bất động sản – nếu xảy ra tranh chấp sẽ tạo ra những tranh cãi không rõ đúng sai về tính pháp lý của các giao dịch này.
Một tín hiệu tích cực là tại Khoản 2 Điều 8 Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản 2014 cũng có quy định về việc “Các trường hợp bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản không nhằm mục đích kinh doanh hoặc có quy mô nhỏ thì không phải thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh bất động sản nhưng phải đăng ký kê khai, nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Chính phủ quy định chi tiết Điều này” – Như vậy có vẻ như Dự thảo đã điều chỉnh đến những trường hợp cho thuê nhà xưởng, văn phòng dư thừa. Đối với trường hợp quy mô nhỏ thì có thể dễ dàng xác định bằng việc ấn định một con số về diện tích kết hợp với doanh thu. Tuy nhiên việc phân định rạch ròi những trường hợp Doanh nghiệp cho thuê văn phòng, nhà xưởng không nhằm mục đích kinh doanh và có nhằm mục đích kinh doanh là bài toán không hề đơn giản cho hoạt động lập pháp của chính phủ (*).
Lời kết
Mặc dù đã được đề cập nhưng Luật kinh doanh Bất động sản 2014 mới chỉ là dự thảo và để áp dụng được thì ít nhất phải 01 năm nữa. Trong khoảng thời gian này liên ngành Tòa án, Xây dựng, Kế hoạch đầu tư cần có những văn bản kịp thời, thống nhấ hướng dẫn về việc cho thuê lại nhà xưởng, văn phòng dư thừa có nhất thiệt phải đăng ký kinh doanh hay không? Nếu có thì trong trường hợp nào?
Ngoài ra Bộ tài nguyên môi trường cũng cần có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp cho thuê lại tài sản trên đất thuê trả tiền hàng năm để Doanh nghiệp yên tâm hoạt động.

(*)Trên thực tế có những trường hợp rất dễ xác định Doanh nghiệp có mục đích kinh doanh hay không kinh doanh để có yêu cầu họ phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề bất động sản hay không?. Đó là trường hợp doanh nghiệp ban đầu hoạt động tại địa điểm A, nhưng sau đó vì nhiều lý do họ buộc phải thuê địa điểm B để hoạt động và cho đơn vị khác thuê lại địa điểm A. Nếu doanh thu từ việc cho thuê địa điểm A nhỏ hơn chi phí thuê địa điểm B hoặc lớn hơn nhưng không đáng kể thì hoàn toàn có thể khẳng định doanh nghiệp thực hiện hoạt động cho thuê không nhằm mục đích kinh doanh.