22 tháng 8, 2013

Hợp Đồng Của Pháp Nhân Không Nhất Thiết Phải Có Con Dấu.


Nguyễn Thu Thủy
Mới đây TAND tỉnh Đồng Nai đã xét xử một vụ án tranh chấp liên quan đến giao dịch của một pháp nhân nhưng trong hợp đồng lại không có con dấu của pháp nhân mà chỉ có chữ ký của Phó giám đốc (được Giám đốc – người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền). Một vấn đề pháp lý đặt ra sau vụ án này là những hợp đồng do pháp nhân giao kết có bắt buộc phải có con dấu không? Trên báo Pháp luật TPHCM số ra ngày 16 và 19/08/2013 đã có nhiều ý kiến trái chiều của các công chứng viên, luật sư và bạn đọc về vấn đề này.  Tuy nhiên có lẽ trong khuôn khổ bài báo có hạn nên các ý kiến chỉ nêu lên một cách vắn tắt và lập luân chung chung. Bài viết dưới đây Luật sư Hoàng Văn Thạch sẽ phân tích và làm rõ hơn về vấn đề này.

Con dấu là căn cứ thể hiện giá trị pháp lý đối với hợp đồng của pháp nhân, nhưng không phải là duy nhất:
          Theo quy định tại Điều 1, Nghị định 58/2001/NĐ-CP thì “Con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước”. Đây là lí do chính khiến một số ý kiến cho rằng nếu một văn bản do cơ quan tổ chức (sau đây gọi chung là pháp nhân) ban hành nói chung hay hợp đồng nói riêng mà không có con dấu thì sẽ không có giá trị pháp lý bất kể lý do gì?. Tuy nhiên nếu đọc kỹ thì thấy quy định này không hề khẳng định con dấu là dấu hiệu duy nhất thể hiện giá trị pháp lý đối với các văn bản của cơ quan tổ chức. Hay nói cách khác con dấu chỉ là một trong những chứng cứ chứng minh sự ràng buộc trách nhiệm của pháp nhân đối với những văn bản do người có thẩm quyền của pháp nhân ký.

      Một số căn cứ khác theo quy định của pháp luật để ràng buộc trách nhiệm của pháp nhân đối với hợp đồng không có con dấu.
      Hình thức của giao dịch dân sự nói chung theo quy định tại Điều 124 BLDS 2005 hay hình thức của hợp đồng nói chung theo quy định tại Điều 401 BLDS 2005 đều cho phép các bên có thể giao kết hợp đồng bằng miệng và các văn bản pháp luật khác cũng không có quy định cấm pháp nhân giao kết hợp đồng bằng miệng. Vậy khi pháp nhân giao kết hợp đồng bằng miệng thì đương nhiên là không có con dấu. Và trường hợp này vẫn được pháp luật chấp nhận.
Vd: Văn phòng của công ty A bị hỏng ổ khóa, nên gọi thợ khóa đến sửa. Lúc này giám đốc của công ty cũng chỉ hỏi giá cả và nếu thống nhất thì để thợ khóa sửa chứ ít ai đi lập hợp đồng bằng văn bản trong trường hợp này. Khi sửa xong ổ khóa nếu công ty không thanh toán đầy đủ thì người thợ sửa khóa hoàn toàn có thể khởi kiện đòi công ty A thanh toán cho mình căn cứ vào hợp đồng miệng đã giao kết. Ở đây băng ghi âm ghi hình hay xác nhận của các nhân chứng chính là chứng cứ chứng minh sự tồn tại của hợp đồng miệng và ràng buộc trách nhiệm của công ty mà không nhất thiết phải là một hợp đồng bằng văn bản có đóng dấu.
Hay như trường hợp phó giám đốc của một công ty tự ý nhân danh công ty ký hợp đồng với bên thứ ba (hợp đồng không có đóng dấu công ty). Đương nhiên hợp đồng này không có giá trị ràng buộc trách nhiệm đối với công ty vì được ký bởi người không có thẩm quyền đại diện của công ty. Tuy nhiên theo quy định tại Khoản 1 Điều 145 BLDS 2005 nếu sau đó bên thứ ba gửi văn bản đến Giám đốc – người đại diện theo pháp luật của công ty thông báo về việc bên thứ ba đã ký hợp đồng với phó giám đốc công ty và nếu Giám đốc công ty xác nhận đồng ý với nội dung của hợp đồng này thì xác nhận này của Giám đốc công ty là chứng cứ chứng minh sự ràng buộc trách nhiệm của công ty đối với hợp đồng do phó giám đốc ký (không có dấu) mà không phải là một hợp đồng có đóng dấu của công. Các bên cũng không cần phải đóng bổ sung dấu vào hợp đồng.

     Không có căn cứ tuyên vô hiệu đối với hợp đồng không có con dấu.
Việc hợp đồng có đóng dấu hay không có đóng dấu là vấn đề hình thức của hợp đồng chứ không phải nội dung của hợp đồng. Tuy nhiên “hình thức” ở đây là hiểu về mặt từ ngữ để diễn giải chứ không phải “hình thức” của hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự.

Theo quy định tại Điều 124 và 401 BLDS 2005 thì hình thức của giao dịch nói chung hay hợp đồng nói riêng được thể hiện dưới các dạng sau: bằng văn bản hay bằng miệng, có công chứng – chứng thực hay không? Và có bắt buộc phải đăng ký, xin phép không?. Ngoài ra việc hợp đồng ký trên loại giấy gì? Giấy phẳng hay nhàu? Viết bằng loại mực gì, kiểu chữ gì… hay có đóng dấu hay không không được coi là hình thức của hợp đồng.
.
      Để tuyên một hợp đồng vô hiệu thì Tòa án cần căn cứ theo quy định tại Chương VI của BLDS 2005 để xem nó vi phạm điều khoản nào? Vậy một khi việc đóng dấu hay không đóng dấu không được coi là hình thức của của hợp đồng theo quy định của BLDS 2005 và nó cũng không phải là vấn đề thuộc về nội dung của hợp đồng thì nếu cho rằng hợp đồng không đóng dấu là vi phạm, là không có giá trị pháp lý thì Tòa án sẽ căn cứ vào quy định nào tại Chương VI BLDS 2005 để tuyên hợp đồng này vô hiệu? Câu trả lời là không có căn cứ nào cả.

       Từ những lập luân trên có thể thấy. Con dấu của pháp nhân chỉ là một trong những căn cứ chứng minh sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý của pháp nhân đối với hợp đồng được ký nhân danh pháp nhân. Ngoài con dấu thì vẫn còn nhiều chứng cứ khác. Do vậy nếu một hợp đồng nhân danh pháp nhân nhưng không có con dấu thì vẫn hoàn toàn có thể có hiệu lực nếu các bên cung cấp được chứng cứ chứng minh ý chí thực sự của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấp nhận hợp đồng này. Thậm chí nếu hợp đồng được ký bởi người đại diện của pháp nhân thì không cần có con dấu vẫn có hiệu lực, vì chữ ký của người đại diện chính là căn cứ thể hiện ý chí của họ đối với nội dung hợp đồng. Tuy nhiên để chắc chắn, tranh gây ra những tranh cãi về sau thì khi ký hợp đồng với pháp nhân phía đối tác ngoài việc yêu cầu người có thẩm quyền đại diện đứng ra ký hợp đồng thì cần phải yêu cầu phía pháp nhân đóng dấu vào hợp đồng.
Luật sư: Hoàng Văn Thạch
Hai bài báo trên Pháp luật TPHCM số ra ngày 16 và 19/08/2013:

http://phapluattp.vn/20130818092527640p1027c1098/quy-dinh-ro-viec-dung-con-dau-cua-dai-dien-phap-nhan.htm

 
(Trong vụ án được TAND tỉnh Đồng Nai xét xử, Giám đốc (người đại diện của công ty Vĩnh Tường)  đã có văn bản ủy quyền cho Phó giám đốc thực hiện giao dịch chuyển quyền sử dụng đất - đây là căn cứ chứng minh ý chí thực của người đại diện công ty đối với hợp đồng, và khi ký hợp đồng PGĐ cũng nhân danh công ty chứ không nhân danh cá nhân. Do vậy hợp đồng này hoàn toàn có hiệu lực đối với công ty Vĩnh Tường.)

1 tháng 8, 2013

Bất Cập Quy Định Đòi Lại Đất Cho Mượn, Cho Thuê

Trần Thùy Liên
                       Luật Sư: Hoàng Văn Thạch

         Khi một cá nhân hay một hộ gia đình cho cá nhân, hộ gia đình khác mượn, thuê đất (có thể có tài sản trên đất); nay bên mượn, thuê đất không thừa nhận có việc cho mượn cho thuê này (tức là không thừa nhận có sự tồn tại của giao dịch này) mà khẳng định là đất của họ thì đây được coi là dạng tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất.
Để điều chỉnh vấn đề này Điều 113 Nghị định 181/2004/NĐ-CP đã quy định như sau:
Khoản 1 điều này quy định:
1. Việc giải quyết trường hợp hộ gia đình, cá nhân mượn, thuê đất ở gắn liền với nhà ở của hộ gia đình, cá nhân khác mà nay trên đất đó còn nhà ở hoặc không còn nhà ở; hộ gia đình, cá nhân mượn, thuê đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh có nhà xưởng hoặc không còn nhà xưởng của hộ gia đình, cá nhân khác được thực hiện khi có các điều kiện sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân cho mượn, cho thuê đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai;
b) Có văn bản thoả thuận về việc mượn đất, thuê đất.
       Như vậy theo quy định này thì điều kiện để việc đòi lại đất được giải quyết là phải đảm bảo:1) Hộ gia đình, cá nhân cho mượn, cho thuê đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai; 2) Có văn bản thoả thuận về việc mượn đất, thuê đất.” Nếu thiếu một trong hai thì sẽ không được giải quyết (chứ chưa bàn đến việc giải quyết như thế nào), người dân gửi đơn cơ quan chức năng sẽ bị trả về.
        Quy định này rất rõ ràng, rành mạch được cho là tạo điều kiện cho cơ quan chức năng trong việc giải quyết tranh chấp được dễ dàng hơn. Tuy vậy, nó có hai bất cập sau đây:
        Thứ nhất: Mâu thuẫn với Khoản 2 Điều 136 Luật đất đai
        Theo quy định tại Điều 136 Luật đất đai thì có hai cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai là UBND và Tòa án. Trong đó UBND sẽ giải quyết tranh chấp về đất chưa được cấp giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật đất đai (khoản 2). Còn Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp các loại đất có một trong các loại giấy tờ nêu trên và phần tài sản trên đất (khoản 1).
Điều 113 Nghị định 181 không quy định việc giải quyết ở đây là do cơ quan nào nên được hiểu là áp dụng chung cho cả UBND lẫn Tòa án. Tức là theo quy định này thì thì UBND chỉ giải quyết việc đòi lại đất khi “nguyên đơn” cung cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ tại các Khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật đất đai. Trong khi Khoản 2 Điều 136 Luật đất đai lại quy định đất tranh chấp không có một các loại giấy tờ đã nêu thì thuộc thẩm quyền của UBND (tức là không chỉ “nguyên đơn” không có mà thậm chí cả “bị đơn” hay “người liên quan” không có thì vẫn phải giải quyết)
Thứ hai: Nghị định của Chính phủ không nên quy định về Tố tụng
Về mặt nội dung quy định này chỉ phù hợp với Khoản 1 Điều 136 Luật đất đai, tức là chỉ áp dụng cho trường hợp giải quyết tranh chấp tại cơ quan Tòa án. Và việc có giải quyết hay không giải quyết là vấn đề thuộc về tố tụng (có thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo Điều 168 BLTTDS hay không) của Tòa án  – Một cơ quan thuộc ngành Tư Pháp, không thuộc Hành Pháp (mà đứng đầu là Chính phủ). Mà một khi đã thuộc về tố tụng thì nên quy định tại Luật, Nghị quyết quốc hội, Pháp lệnh…nói chung là những văn bản có giá trị pháp lý cao hơn hoặc quy định tại Nghị quyết của HĐTP TANDTC hay Thông tư của Chánh án (những văn bản do người của ngành Tòa án ký). Có như vậy thì mới phù hợp với tính phân công và phối hợp giữa Hành Pháp và Tư Pháp theo quy định tại Điều 2 Hiến Pháp 1992.
Tòa án không phải là cơ quan thuộc Chính phủ nên việc dùng Nghị định của Chính phủ để quy định về tố tụng là thực hiện sai chức năng. Vì mặc dù Nghị định có chức năng  hướng dẫn thi hành luật nhưng chỉ là hướng dẫn trong khuôn khổ quản lý điều hành của Chính phủ - có thể hiểu điều này khi đọc Điều 14 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Việc Chính Phủ quy định về hoạt động tố tụng của Tòa án chả khác nào Bộ Y Tế quy định về trình tự, thủ tục cấp sổ đỏ; Bộ Giáo dục quy định về việc cấp giấy phép xây dựng…

27 tháng 7, 2013

Tóm Lại Là Nếu Không Biết Địa Chỉ Của Bị Đơn Thì Tòa Án Có Thụ Lý Không?

Đời sinh viên có cây đàn Guitar
Luật Sư: Hoàng Văn Thạch

Có một mâu thuẫn tồn tại đã rất lâu trong BLTTDS từ khi nó ra đời (năm 2004) đến nay, nhưng sau khi sửa tới, sửa lui từ Bộ luật cho đến Nghị quyết thì mâu thuẫn đó vẫn chưa được giải quyết.
Theo quy định tại Điều 164 BLTTDS thì trong đơn khởi kiện phải ghi rõ địa chỉ của bị đơn. Nếu không ghi rõ thì sẽ là căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 169 BLTTDS (trước và sau sửa đổi).

Nguyên đơn không biết địa chỉ của bị đơn – Tòa có thụ lý không?
Theo quy định tại Khoản 1A Điều 36 BLTTDS: “Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
A) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;”. Hướng dẫn quy định này Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP tại Điều 5.1 Phần III tiếp tục nhấn mạnh “chỉ trong trường hợp không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn, thì nguyên đơn mới có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”.
Nếu theo quy định này thì trường hợp không biết địa chỉ hiện thời của bị đơn nhưng nếu biết nơi cư trú cuối cùng của họ thì Tòa án vẫn thụ lý.

        Ghi rõ địa chỉ của bị đơn để làm gì?
Vậy câu hỏi đặt ra là Điều 164 quy định phải ghi rõ địa chỉ của bị đơn để làm gì? Theo người viết có 02 lý do:
1/ Để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ,
2/ Để thực hiện nghĩa vụ thông báo cho bị đơn biết việc tòa án đã thụ lý vụ án (tức là cho bị đơn biết mình đã bị ai đó khởi kiện vì lý do gì để mà còn chuẩn bị hầu tòa, chuẩn bị đối phó) theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 BLTTDS (quy định này không được sửa đổi hay bổ sung theo Luật TTDS sửa đổi) cũng như các quy định khác về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn.
Với 02 mục đích nêu trên thì quy định tại Khoản 1A Điều 36 BLTTDS và hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP mới chỉ đáp ứng được mục đích thứ nhất là xác định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ. Còn mục đích thứ hai là để tòa án thực hiện nghĩa vụ thông báo thụ lý vụ án tới bị đơn thì chưa được giải quyết.

         Quy định “đá” nhau và sự lãng tránh của các hướng dẫn.
Đến đây nếu Tòa án thụ lý vụ án thì trước mắt là vi phạm Điều 164 và sau đó là vi phạm Điều 174 BLTTDS và các quy định khác về nghĩa vụ tống đạt tài liệu tố tụng cho bị đơn; còn nếu không thụ lý thì vi phạm Khoản 1A Điều 36 BLTTDS. Trong khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật không quy định hướng giải quyết cho trường hợp có sự mâu thuẫn giữa 02 quy định trong cùng một văn bản.
Một năm sau khi ban hành Nghị quyết 01/2005 TANDTC tiếp tục ban hành Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP trong đó tại mục 8.5 và 8.6 phần I hướng dẫn cụ thể về việc xác định địa chỉ của Bị đơn (  hướng dẫn Điều 169). Theo đó nó quy định: nếu mà trong đơn khởi kiện chưa xác định địa chỉ của bị đơn thì bảo nguyên đơn bổ sung, nếu không bổ sung được thì trả lại đơn khởi kiện; còn nếu đã ghi rõ địa chỉ rồi mà sau đó bị đơn biết được việc mình bị khởi kiện nên đã bỏ trốn, để cố tình trốn tránh việc tham gia tố tụng thì Tòa án giải quyết theo thủ tục chung. Như vậy có thể thấy là nó chỉ chăm chăm giải quyết mục đích thứ hai đã nêu ở trên, tức là bị đơn cố tình trốn tránh thì coi như Tòa án không có lỗi trong việc vi phạm nghĩa vụ thông báo thụ lý vụ án được quy định tại Điều 174 cũng như việc gửi các tài liệu tố tụng khác nên tòa giải quyết bình thường. Còn nó cũng không đoái hoài gì đến quy định tại Khoản 1 Điều 36 BLTTDS và quy định tại Nghị quyết 01/2005 trước đó. Điều này cũng dễ hiểu vì “sứ mệnh” của nó chỉ là hướng dẫn quy định về đơn khởi kiện.
Như vậy đến lúc này không chỉ có mâu thuẫn giữa các quy định trong một luật mà còn kéo theo cả mâu thuẫn của những Nghị quyết hướng dẫn. Nhưng vì Nghị quyết 02/2006 ban hành sau Nghị quyết 01/2005 nên trong trường hợp này có thể miễn cưỡng áp dụng quy định tại Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 (trước đó là Luật năm 1996) là ưu tiên áp dụng văn bản ban hành sau. Tức là áp dụng quy định của Nghị quyết 02/2006 – Nếu không biết địa chỉ của bị đơn thì Tòa trả lại đơn khở kiện; nếu đã xác định được địa chỉ rồi mà bị đơn cố tình trốn tránh thì Tòa vẫn giải quyết theo thủ tục chung.
Tuy vậy vẫn có nhiều Tòa án vẫn áp dụng Khỏan 1A Điều 36 BLTTDS, Nghị quyết 01/2005 và ra thông báo tìm kiếm bị đơn đồng thời ấn định cho họ một thời gian nhất định phải đến trình diện Tòa án, nếu không đến thì Tòa án vẫn sẽ giải quyết vắng mặt. Do vậy để chắc chắn, ngay sau khi ban hành Nghị quyết 02/2006 TANDTC ban hành thêm Công văn 109/2006/KHXX trong đó tái khẳng định lại quan điểm của Tòa án tại Nghị quyết 02/2006 và nhắc nhở tòa án các cấp phải thực hiện đúng hướng dẫn của Nghị quyết này. Vài năm sau để cụ thể hơn nữa, Tòa án lại nhắc lại điều này trong cuốn Sổ tay thẩm phán (lần này thì cụ thể hơn chút là làm rõ căn cứ xác định bị đơn, người liên quan cố tình trốn tránh dựa vào việc trước khi bỏ trốn họ đã nhận được thông báo thụ lý hay chưa). Mặc dù vậy không hiểu vì sao cả hai tài liệu này cũng đều lãng tránh quy định tại Khoản 1 Điều 36 BLTTDS và Nghị quyết 01/2005. 

Đến lúc này nếu khi khởi kiện mà không biết địa chỉ hiện tại của Bị đơn thì muốn vụ việc được giải quyết Nguyên đơn chỉ còn cách làm đơn yêu cầu tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định tại Chương XXII BLDS, theo đó Nguyên đơn phải cung cấp chứng cứ chứng minh bị đơn đã biệt tích từ 06 tháng trở lên, nếu sau khi thông báo mà không có tin tức gì của bị đơn thì phải đợi đến 02 năm kể từ ngày biệt tích Nguyên đơn yêu cầu tuyên bố mất tích theo quy định Chương XXIII BLDS rồi sau đó Tòa án mới có thể giải quyết vụ việc được. Nói chung là khá phức tạp, nhiêu khê và mệt mỏi.

         Mâu thuẫn vẫn tồn tại và kiến nghị của người viết
Đến năm 2011 Khi BLTTDS được sửa đổi, mâu thuẫn này vẫn không hề được giải quyết. Khoản 1A Điều 36 giữ nguyên; Điều 164 có sửa đổi nhưng địa chỉ của bị đơn vẫn phải ghi rõ trong đơn; Điều 174 không có gì khác… Tiếp tục mới đây TANDTC lại ban hành Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP có hiệu lực 01/07/2013 hướng dẫn phần thứ nhất BLTTDS (sau sửa đổi) (để thay thế Nghị quyết 01/2005) và Nghị quyết 05/2012 có hiệu lực 01/07/2012 hướng dẫn phần thứ 2 của BLTTDS (thay thế Nghị quyết 02/2006) nhưng phần hướng dẫn Khoản 1A Điều 136 và hướng dẫn Điều 169 chỉ là sự sao chép nguyên si của Nghị quyết 01/2005 và Nghị quyết 02/2006 và không hề đã động đến việc giải quyết mâu thuẫn này. Đến lúc này thì Nghị quyết 03/2012 & Nghị quyết 05/2012 lại được ban hành cùng một thời điểm (03/12/2012) vì vậy không biết phải ưu tiên áp dụng văn bản nào. Vậy câu hỏi là: có áp dụng theo quy định của Nghị quyết 03/2012 hay không hay vẫn theo tinh thần của Nghị quyết 05/2012, công văn 109 và hướng dẫn tại cuốn Sổ tay thẩm phán?


15 tháng 6, 2013

Phạm Vi Trách Nhiệm Bồi Thường Nhà Nước Trong Hoạt Động Quản Lý Hành Chính


 Luật Sư: Hoàng Văn Thạch
Dương Huyền Ny
Ngày 28/05/2013 vừa qua Bộ Tư Pháp đã tổ chức sơ kết 03 năm thi hành Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước (TNBTNN) (có hiệu lực từ 01/01/2010) và trước đó một số cơ quan, ban, ngành liên quan đã tổ chức những buổi tọa đàm về vấn đề này. Qua những hoạt động này, một số đại biểu, chuyên gia pháp lý đã phân tích chỉ ra những tồn tại, vướng mắc sau hơn 03 năm thi hành của Luật. Có những vướng mắc mới được phát hiện dựa trên thực tiễn thi hành nhưng cũng có cả những bất cập đã được chỉ ra ngay trong nghị trường từ khi dự thảo được trình lên Quốc hội nhưng đã không được tiếp thu. UBTVQH khi đó đã giải trình một cách qua loa, thiếu thuyết phục và cuối cùng  dự án Luật vẫn được thông qua. Đó là quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính (Điều 13) và quy định về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường (Điểm a khoản 1 Điều 6, Điều 15).
Vì không muốn lặp lại quan điểm của người khác nên bài viết này chỉ tập trung phân tích về quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính (Điều 13) với một ý kiến bổ sung hoàn toàn mới.
Vi Phạm Hiến Pháp, Không Đảm Bảo Tính Công Bằng.
Theo Điều 13 của luật TNBTNN thì chỉ có 12 nhóm hành vi vi phạm trong hoạt động quản lý hành chính thuộc phạm vi TNBTNN. Có thể dễ dàng nhận ra 12 nhóm hành vi này được chọn lọc từ 22 nhóm hành vi theo quy định tại Điều 11 Pháp lệnh giải quyết vụ án hành chính 1996 (sửa đổi 2006). Và vì vậy sẽ có rất nhiều hành vi vi phạm trong hoạt động quản lý hành chính nhưng không thuộc một trong các nhóm hành vi này (ví dụ như hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động cấp hộ chiếu, thị thực cho công dân theo Nghị định 136/2007/NĐ-CP về xuất – nhập cảnh của công dân Việt Nam chẳng hạn) thì sẽ không thuộc diện được bồi thường Nhà nước, hay nói cách khác Nhà nước không có trách nhiệm bồi thường cho những vi phạm này. Lúc này người dân sẽ buộc phải yêu cầu cá nhân, cơ quan Nhà nước có hành vi vi phạm bồi thường căn cứ theo quy định của Bộ luật dân sự và (Nghị quyết 03/2006-NQ-HĐTP) về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; và nếu những bị đơn này không có đủ tài sản để thi hành án thì cũng đành “bó tay” như bao vụ án dân sự khác.
Lý do có giới hạn phạm vi này được UBTVQH lý giải là do điều kiện kinh tế của ta có hạn nên chỉ tập trung bồi thường cho một số trường hợp, nếu tất cả hành vi vi phạm của người thi hành công vụ đều được bồi thường bằng ngân sách Nhà nước thì không khả thi (do Ngân sách không đủ chi – một cách gián tiếp thừa nhận Nhà nước xâm hại rất nhiều đền quyền lợi người dân), mặc dù nhiều đại biểu phản đối cho rằng điều này là trái với quy định tại Điều 74 Hiến Pháp “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh”. Và ngoài ra điều này còn gây ra sự bất bình đẳng trong xã hội khi cùng bị tác động bởi hành vi vi phạm của cơ quan Nhà nước nhưng trường hợp thì được Nhà nước đứng ra bồi thường, trường hợp thì không (ở đây chúng ta Nhà nước đóng vai trò giống như người bảo lãnh trong các giao dịch dân sự). Tất nhiên hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước thì nó rất rộng, việc Chính phủ hay Bộ ban hành một văn bản pháp luật thì cũng là hoạt động quản lý hành chính, nhưng sự bất công bằng muốn nói tới ở đây là những trường hợp bị ảnh hưởng bởi quyết định hành chính hay hành vi hành chính. Vì văn bản pháp luật thì nó mang tính áp dụng chung nên tác động đến rất nhiều người, nếu nó có sai thì rất nhiều người bị ảnh hưởng; còn quyết định hành chính, hành vi hành chính thì ngược lại.
Chính vì những lý do này, sau hơn 03 năm, khi lại có cơ hội được trình bày ý kiến, những người phản đối quy định này tiếp tục quay lại đòi sửa đổi theo hướng Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho tất cả các hành vi vi phạm trong hoạt động quản lý hành chính.
Xung Đột Với Luật Tố Tụng Hành Chính.
Tuy vậy theo quan điểm cá nhân của người viết thì ngay cả khi Điều 13 Luật TNBTNN không được sửa lại thì nếu áp dụng pháp luật một cách triệt để thì trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính không chỉ giới hạn trong Điều 13 Luật TNBTNN. Bởi vì chỉ một năm sau khi thông qua luật TNBTNN, Quốc hội lại mâu thuẫn với chính mình tiếp tục thông qua Luật Tố tụng hành chính (TTHC). Trong đó theo quy định của Điều 28 luật TTHC thì gần như tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính đều có thể bị khởi kiện (khác với pháp lệnh trước đó). Mà khi khởi kiện một vụ án hành chính thì người dân có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước bồi thường thiệt hại phát sinh và theo Điều 6 luật này “Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hành chính có thể đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp này các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và pháp luật về tố tụng dân sự được áp dụng để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Như vậy có thể thấy theo Luật TTHC thì khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại liên quan đến bất cứ quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực nào thì đều phải áp dụng Luật TNBTNN để giải quyết mà không án dụng Bộ luật dân sự (phần quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng).
Theo quy định tại Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì trường hợp này mặc dù có mâu thuẫn với Luật TNBTNN nhưng Luật TTHC ban hành sau nên sẽ được ưu tiên áp dụng. Điều này có nghĩa là tất cả các thiệt hại phát sinh từ quyết định hành chính hay hành vi hành chính dù không thuộc phạm vi của Điều 13 thì Nhà nước vẫn phải có trách nhiệm ứng ngân sách để bồi thường.
Có lẽ khi soạn và trình dự án luật TTHC thì UBTVQH, Ban soạn thảo đã không rà soát đầy đủ các quy định pháp luật nên không phát hiện ra mâu thuẫn này và vì vậy ý đồ của ban soạn thảo khi xây dựng Điều 13 Luật TNBTNN đã gần như không đạt được mục đích. Tuy nhiên chính điều này lại vô tình khiến cho pháp luật được công bằng hơn. Vấn đề đặt ra là khi gặp trường hợp này Tòa án có dám mạnh dạn áp dụng Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết xung đột không hay phải chờ tới hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.

10 tháng 5, 2013

Kẻ Tung Tin Đồn Thất Thiệt Vụ Rạch Đùi Nữ Sinh Sẽ Bị Xử Lý Ra Sao?


Ai đây?
Luật sư: Hoàng Văn Thạch

Vừa quan báo chí đưa thông tin về việc một thanh niên tên Nguyễn Khánh Thành đưa lên mạng thông tin thất thiệt về việc nữ sinh bị rạch đùi bằng dao làm nhiễm máu HIV gây hoang mang trong dư luận. Cơ quan chức năng thì tuyên bố sẽ xử lý nghiêm; ý kiến của mọi người về vấn đề này cũng khác trái nhau, người thì cho rằng có đủ cơ sở để xử lý anh ta về tội “đưa trái phép thông tin lên mạng internet” theo Điều 226 BLHS, lại có người cho rằng anh ta có thể bị xử lý về tội “vu khống” theo Điều 122 BLHS; lại có ý kiến cho rằng có dấu hiệu phạm vào tội “đưa trái phép thông tin lên mạng internet” nhưng vì chưa có hướng dẫn về tội danh này nên chưa thể xử lý được…vv.
     Dưới đây là một vài chia sẻ thể hiện góc nhìn khác của người viết:
Trước tiên khi nói đến một hành vi ta cần xem xét đến hành vi đó đã vi phạm quy định nào, và nếu đã vi phạm rồi thì chế tài sẽ ra sao? Vậy:
     Hành vi tung tin đồn thất thiệt lên mạng internet vi phạm quy định nào?
     Đối với hành vi tung tin đồn không đúng sự thật về thị trường, giá cả gây hoang mang dư luận thì đã có căn cứ xử lý là Khoản 1 Điều 18 Nghị định 84/2011/NĐ-CP, phao tin bịa đặt gây hoang mang dư luận nhằm chống phá Nhà nước thì căn cứ xử lý là Điều 88 BLHS 1999. Tuy nhiên đối với hành vi tung tin đồn thất thiệt không liên quan đến thị trường, giá cả và cũng không nhằm mục đích chống phá Nhà nước thì căn cứ xử lý hiện nay rất chông chênh. Trường hợp của Nguyễn Khánh Thành thì anh này đưa lên Facebook thông tin về việc nữ sinh bị rạch đùi bằng dao có máu nhiễm HIV tại Hà Nội, điều này gây tâm lý hoang mang trong dư luật xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của một số người. Công an cũng đã triệu tập anh ta lên làm việc. Vậy căn cứ nào để nói Thành vi phạm pháp luật?
      Facebook là một trang thông tin điện tử cá nhân và nó chịu sự điều chỉnh của Thông tư 07/2008/TT-BTTTT, theo quy định tại Điều 3.2 của Thông tư này thì hành vi “thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” là hành vi bị nghiêm cấm.
      Tuy nhiên có hai điểm bất cập đối với quy định này là:
Thứ nhất: quy định này là để hướng dẫn Điều 6 Nghị định 97/2008/NĐ-CP về Về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet. Điều 6 Nghị định 97 quy định “Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Lợi dụng Internet nhằm mục đích:
a) Chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền chiến tranh xâm lược; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
b) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác đã được pháp luật quy định;
c) Đưa các thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức; danh dự, nhân phẩm của công dân;
d) Lợi dụng Internet để quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục cấm theo quy định của pháp luật. 
2. Gây rối, phá hoại hệ thống thiết bị và cản trở trái pháp luật việc quản lý, cung cấp, sử dụng các dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.
3. Đánh cắp và sử dụng trái phép mật khẩu, khoá mật mã và thông tin riêng của các tổ chức, cá nhân trên Internet.
4. Tạo ra và cài đặt các chương trình virus máy tính, phần mềm gây hại để thực hiện một trong những hành vi quy định tại Điều 71 Luật Công nghệ thông tin
Đối chiếu ta thấy quy định trên không tương xứng với bất cứ quy định nào tại Điều 6 Nghị định 97. Hay nói cách khác thông tư 07 mặc dù là để hướng dẫn Nghị định 97 nhưng thực chất là đặt thêm ra các quy định mới chứ không phải hướng dẫn cụ thể. Chính vì việc đưa thêm ra quy định mà dẫn đến không có chế tài xử phạt sẽ phân tích dưới đây.
Thứ hai: Việc đưa tin nữ sinh bị rạch dao làm dính máu HIV là thông tin sai sự thật, nhưng nó đã xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức nào thì cũng rất mơ hồ; ừ thì cũng có thể lập luận là vì thông tin này nên có người không dám ra đường (bị xâm hại quyền tự do đi lại), hoặc do tâm lý hoang mang nên họ không làm được những việc khác dẫn đến thiệt hại về tài sản…vv Nhưng nói chung là không thuyết phục. Có chăng đây chỉ là xâm phạm về mặt tinh thần, nhưng lại khó tìm ở đâu một quy định của pháp luật bảo vệ quyền được bình yên về tinh thần của cá nhân. Bộ luật dân sự cũng có quy định về việc phải bồi thường thiệt hại do xâm hại về tinh thần (K3 Điều 307 BLDS) nhưng cái thiệt hại này lại chỉ là thiệt hại phát sinh từ hành vi xâm phạm về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín. Chứ không có hành vi xâm phạm tinh thần đơn thuần.
Chế tài nào để xử lý đối với hành vi của Nguyễn Khánh Thành?
      Về chế tài hành chính: Trong vụ việc trên nếu cố tìm ra một căn cứ nào đó để khẳng định hành vi của Thành là trái pháp luật thì có thể căn cứ vào quy định tại Thông tư 07 nêu trên (tất nhiên có phần hơi khiên cưỡng). Tuy nhiên theo Khoản 2 Điều 9 Nghị định 28/2009/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì việc xử phạt đối với “Các hành vi bị nghiêm cấm trong Nghị định quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thì bị xử phạt theo Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin ». Tức là quay về áp dụng Nghị định 63/2007/NĐ-CP, mà Nghị định này chỉ quy định xử phạt nếu hành vi đưa thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm của ai đó chứ không có quy định về xử phạt đối với hành vi đưa thông tin xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Như vậy sẽ không tìm được chế tài tương xứng để xử lý đối với Thành.
     Về chế tài hình sự: Nếu coi việc đưa thông tin của Thành là trái pháp luật (phạm vào điều cấm của Thông tư 07 đã nói) thì trong các tội danh được quy định tại BLHS chỉ có Điều 226 quy định về tội “đưa trái phép thông tin lên mạng internet” phù hợp. Tuy nhiên để khởi tố Thành về tội danh này thì cơ quan điều tra phải chứng minh Thành đã gây hậu quả nghiêm trọng (trở lên). Theo hướng dẫn tại Thông tư 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTT-VKSNDTC-TANDTC thì “hậu quả nghiệm trọng” đối với tội này là: gây thiệt hại về tài sản ít nhất là 50 triệu đồng hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, dẫn đến gây rối loạn và làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức. Có thể thấy hành vi của Thành chưa gây hậu quả nghiêm trọng.
      Cũng có ý kiến cho rằng có thể xử lý Thành về tội “vu khống” theo Điều 122 BLHS nhưng trường hợp này Thành không nhắm đến bất cứ ai, không có mục đích vu khống mà chỉ nhằm cảnh báo mọi người, hoặc câu view cho facebook do mình quản lý. Do vậy không có cơ sở để xử lý Thành về tội danh này.

Vậy hãy đợi xem cơ quan chức năng sẽ áp dụng quy định nào của pháp luật để xử lý đối với Thành?
      Lỗ hổng quy định pháp luật:
      Cũng may là trong vụ việc này Thành đưa tin đồn thất thiệt đó lên mạng chứ nếu tuyên truyền bằng miệng thì không hiểu cơ quan chức năng tìm đâu ra quy định pháp luật để mà bắt bẻ anh ta.
      Việc tung tin đồn thất thiệt gây hoang mang dư luận rất cần bị xử lý tuy nhiên pháp luật quy định còn chưa được đầy đủ. Điều này đặt ra vấn đề là cần phải có quy định chung để xử lý đối với người tung tin, rồi tùy từng lĩnh vực mà có quy định xử lý riêng về hành chính (chẳng hạn như tung tin đồn về giá cả, thị trường như quy định tại Nghị định 84/20011/NĐ-CP như đã nói) và cao hơn là xử lý về hình sự. 

Bài cũng được đăng trên báo Người Đưa Tin: 

http://www.nguoiduatin.vn/luat-su-phan-hoi-bai-viet-kho-khoi-to-vu-tung-tin-don-a80393.html

1 tháng 4, 2013

Bản Tin Tổng Hợp Tối 01/04/2013


Luật sư: Hoàng Văn Thạch
Kim Na Neul
1. Kinh Tế:
- Sau khi Bộ Công Thương Việt Nam (MOIT) tuyên bố khởi xướng và tiến hành điều tra vụ kiện chống trợ cấp đối với mặt hàng tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ một số quốc gia trong đó có Mỹ, Sáng nay liên minh công nghiệp tôm vùng vịnh Mỹ (COGSI) đã lên tiếng phản đối quyết định này. Theo COGSI việc MOIT ra quyết định khởi kiện và nếu một mức thuế chống trợ cấp (CVD) được áp dụng sẽ là một đòn nghiêm trọng đánh vào không chỉ các doanh nghiệp nhập khẩu và chế biến tôm của Việt Nam mà còn ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của nhiều triệu nông dân, doanh nghiệp chế biến tại các nước liên quan tới vụ kiện, trong đó có Mỹ. Vụ kiện này là một hình thức cạnh tranh không lành mạnh và thiếu cơ sở, vì Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) lợi dụng cơ chế pháp lý để làm tăng giá thành, giảm nhu cầu tôm nhập khẩu, giảm lợi thế cạnh tranh của tôm Mỹ trên thị trường Việt Nam. VASEP chỉ đại diện cho ngành khai thác tôm Việt, hiện chỉ đáp ứng cho khoảng 10% nhu cầu tiêu thụ tôm của nước này, 90% nhu cầu tôm của người Việt phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Vì vậy, việc VASEP đại diện cho số ít ỏi 10% nguồn cung cấp tôm tại Việt khởi xướng vụ kiện chống lại tôm nhập khẩu (cung ứng 90% nhu cầu cho người tiêu dùng Việt) là bất hợp lý.
- Cuộc chiến không có hồi kết diễn ra hàng trăm năm qua giữa hai hãng đồ uống COCA và PEPSI đã chính thức khép lại vào ngày hôm nay sau khi 02 gã khổng lồ này bị mua lại bởi Hiệp hội trà đá Việt Nam
- Campuchia, Lào và Trung Quốc hôm qua đã đồng loạt gửi công hàm yêu cầu chính phủ Việt Nam tăng giá săng lên mức 10.000đ/lit cho cân bằng với các nước có chung đường biên giới. Việc giá xăng của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực khiến tình hình buôn lậu xăng dầu diễn ra nhộn nhịp tại khu vực Biên giới giữa Việt Nam với các nước trên, nằm ngoài tầm kiểm soát của hải quan và bộ đội biên phòng của các nước này.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Nhật Bản trong quý I đã vượt mức 600 tỉ đô la, tăng 63,6% so với cùng kỳ năm 2012.
Kênh truyền hình Triều tiên KCNA trích dẫn số liệu của Tổng cục Thống kê Nhật Bản cho biết tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm trong 3 tháng đầu năm là 601 tỉ đô la, trong lúc mức giải ngân lên tới 270 tỉ đô la, tăng hơn 7% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên mới đây Việt Nam đe dọa sẽ ngừng cấp vốn
Việt Nam dẫn đầu trong số 31 quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam trong quí I, với vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 315 tỉ đô la, chiếm hơn 50% tổng vốn đầu tư vào Nhật Bản. Bắc Triều Tiên và Myanmar lần lượt đứng ở các vị trí tiếp theo. Tuy nhiên mới đây Việt Nam đe dọa nếu Chính phủ Nhật bản không cải thiện đường tình trạng tham nhũng trong việc đấu thấu và xây dựng các công trình có nguồn vốn FDI, Việt Nam sẽ chuyển dòng vốn này sang Hàn Quốc.
Giới hữu trách Nhật Bản đề ra chỉ tiêu thu hút 1500 tỉ đô la FDI trong năm 2013.
- Việt Nam vừa tuyên bố ngừng tuyển dụng các lao động Hàn Quốc vào Việt Nam do tình trạng lao động nước này bỏ trốn không chịu về nước sau khi hết thời hạn lao động đang diễn ra vô cùng phức tạp. Chi phí cho việc sang lao động tại Việt Nam chỉ khoảng 10 triệu đồng, tuy nhiên người lao động Hàn Quốc đã phải trả chi phí lên đến 40 triệu cho các Công ty môi giới, đây là một trong các nguyên nhân khiến lao động Hàn Quốc muốn ở lại Việt Nam để kiếm thêm. Mặc dù vậy thì một số nhà phân tích cho rằng hành động này của Việt Nam nhằm phản ứng lại việc chính phủ Hàn Quốc mới đây đã bỏ tù 03 nông dân Việt Nam vì hành vi tuyển vợ bất hợp pháp tại nước này.
Theo khảo sát mức thu nhập bình quân của lao động Hàn Quốc tại Việt Nam là 3 triệu đồng/tháng. Việt Nam đang rơi vào một cuộc đại khủng hoảng lao động phổ thông do ai cũng học Đại học và họ không muốn làm các công việc không tương xứng. Sau khi ngừng tuyển dụng lao động Hàn Quốc chính phủ Việt nam dự định chuyển hướng sang lao động tại các khu vực như Macao, Đài Loan và các nước Nhật Bản, UAE và mọt số nước châu phi.
- Tổng thống Mỹ Obama chiều nay đã ký sắc lệnh cấm người dân được cất giữ, mua bán đồng Việt Nam trên lãnh thổ Mỹ. Đây là một nỗ lực của chính phủ nhằm bảo vệ tờ Dollar trước sự lớn mạnh của Đồng Việt Nam. Tuy nhiên phe Cộng hòa lo ngại quy định này sẽ giảm lượng lớn kiều hối hàng năm gửi từ Việt Nam vào Mỹ. Theo thống kê Việt Nam đứng thứ 2 trong số các nước có lượng kiều hối đổ vào Mỹ, chỉ sau Zimbabwe (đất nước mà mỗi công dân là một tỷ phú).
- Liên minh 7 nước gồm Hy Lạp (đứng đầu), Sip, Bắc Ailen, Bồ đào nha, Tây Ban nha, Italia và Hy lạp vừa kêu gọi liên minh Châu Âu cần có những gói cứu trợ khẩn cấp khoảng 900 tỷ Euro  cho Đức, Anh và Pháp trước khi các nước này vỡ nợ. Trong đó Đức là con nợ lớn nhất của EU.
Các cuộc thăm dò dư luận mới đây cho thấy tỷ lệ người Hy Lạp phản đối Đức ở lại khu vực đồng euro (eurozone) ngày càng tăng trong thời gian qua. Cuộc khảo sát của đài truyền hinh trung ương Hy Lạp hôm 25/5 cho thấy, có tới 60% người Hy Lạp muốn Đức rời khỏi eurozone, tăng 11% so với tháng 11/2011. Họ cho rằng Đức, Anh, Pháp đang trở thành gánh nặng cho liên minh Châu Âu. Sáng nay Thủ tướng Hy Lạp Antonis Samaras đã rời Aten để tới Berlin gặp bà Markel nhằm bàn giải pháp cho gói cứu trợ cho Đức. Đây là chuyến đi đầu tiên của ông Samaras tới Berlin kể từ sau khi ông nhậm chức. Sau đó ông sẽ lần lượt công du tới Anh và Pháp.
Kim Jong Un tuyên bố tăng cường cấm vận Mỹ
2. Chính Trị:
- Việt Nam vừa tuyên bố chủ quyền đối với đảo Hải Nam sau khi một chiếc trống đồng Đông Sơn được tìm thấy trên đảo này. Trả lời câu hỏi của phóng đề nghị cho biết phản ứng của Trung Quốc sau khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với đảo Hải Nam, phát biểu trên kênh truyền hình trung ương CCTV người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố “Trung Quốc có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với đảo Hải Nam”. Trước đó Trung Quốc cũng đã có công hàm phản đối hộ chiếu của Philipine có in hình bản đồ của nước này với đường lưỡi tắc kè kéo dài đến tận tỉnh Hắc Long Giang của Trung Quốc.
    Ngay sau tuyên bố của Việt Nam một số cuộc biểu tình đã diễn ra tại Thượng Hải và Bắc Kinh nhưng nhanh chóng bị Cảnh sát giải tán.
- Sáng nay Việt Nam vừa có cuộc tập trận bằng đạn thật quy mô lớn trên vùng biển Bắc Cực. Theo giới chức Việt Nam, cuộc tập trận nhằm mục đích kiểm tra đột xuất khả năng sẵn sàng chiến đấu và phối hợp hành động của các đơn vị quân đội Việt Nam. Dù vậy, giới phân tích nhận qua các cuộc tập trận, Việt Nam muốn nhắc nhở phương Tây về sự hiện diện của Việt Nam ở khu vực này. Trong khi đó, nhà phân tích quân sự người Việt trưởng thôn Văn Hiệp nhận định rằng các cuộc tập trận không thông báo trước nói trên có thể khiến các nước trong khu vực lo ngại.
- Triều Tiên và Iran hôm qua tuyên bố sẽ tăng cường cấm vận kinh tế đối với Mỹ nếu nước này tiếp tục ngang bướng thực hiện việc đưa tàu Vũ Trụ lên sao Hỏa. Mỹ cho rằng đây là hoạt động nghiên cứu vũ trụ và không nhằm mục đích nào khác. Tuy nhiên Iran và Bắc Triều Tiên cho rằng đây là một vụ thử tên lửa tầm xa trá hình. Trước đó, phát biểu tại hội nghị của Liên hợp quốc, tổng thống Syria  Bashar Assad cũng bóng gió rằng Mỹ đang âm thầm phát triển vũ khí sinh hóa học hủy diệt hàng loạt.
Trong khi đó, gần đây Tổng thống Obama liên tục có các đợt thi sát tới các đơn vị quân đội, kêu gọi người dân đoàn kết, sẵn sàng cho lệnh tổng động viên và tuyên bố sẽ nhấn chìm Bình Nhưỡng và Tehera trong biển lửa. Đáp lại thái độ này người dân Iran và Bắc Triều Tiên  tỏ ra mệt mỏi với những lời đe dọa đến từ Mỹ, cuộc sống ở đây vẫn diễn ra bình thường. Tổng thống Palestine Mahmoud Abbass kêu gọi các bên kiềm chế và dự định sẽ có chuyến công du tới Ira và Bắc Triều Tiên nhằm tiếm kiếm một giải pháp hoàn bình cho căng thẳng giữa các nước.
3. Pháp luật:
- Ngay sau khi Bộ công an đề xuất xử phạt người tham gia giao thông đội mũ bảo hiểm kém chất lượng. Bộ y tế cũng đề xuất sẽ xử phạt nghiêm những cá nhân, hộ gia đình nào mua phải thực phẩm không đảm báo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Trong khi đó Luật luật sư sửa đổi vừa có hiệu lực ngày hôm nay quy định mọi biên bản lấy lời khai, hỏi cung đối với nghi can, bị can, bị cáo trong quá trình điều tra đều buộc phải có Luật sư tham gia. Luật sư được quyền tham gia các phiên tòa mà không cần sự cho phép của các cơ qua tiến hành tố tụng. Chỉ cần xuất trình hợp đồng thuê luật sư là đủ điều kiện tham gia tố tụng. Đối với trường hợp bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự đang bị tam giam thì chỉ cần có hợp đồng của người nhà thuộc các hàng thừa kế theo quy định của BLDS là đủ. Mọi vụ án hình sự bắt buộc phải có luật sư tham gia.
4. Thể Thao
- Các kênh truyền hình của Anh đang tạo ra một cuộc đua khốc liệt trong việc mua bản quyền giải truyền hình bóng đá Việt Nam hay còn gọi là V-league. Tham gia cuộc họp báo để tháo gỡ vấn đề bản quyền giải bóng đá Việt Nam, Bộ trưởng Bộ truyền thông Anh kêu gọi các đài truyền hình nên bắt tay với nhau, trong khi Sky Sport tuyên bố không mua bằng mọi giá.
- Theo một thăm dò trên Kenh14.vn có đến 90% người hâm mộ bóng đá Mỹ mong muốn Vleague diễn ra vào buổi sáng để họ có điều kiện theo dõi. Chủ tịch VFF ông Nguyễn Trọng Hỷ tuyên bố sẽ xem xét nghiêm túc đề xuất này.
- Liên đoàn bóng đá Italia vừa thông báo đã mời được CLB Đồng Nai sang du đấu tại TBN. Chi phí không được tiết lộ nhưng theo BLV Biên Cương chắc chắn không dưới 2 triệu đô la. Cùng ngày Liên đoàn bóng đá TBN đã quyết định hoãn trận đấu giữa Real Mandrit và Barcalona sang ngày mai nhằm thu hút khán giả. Do trận đấu trên gần thời điểm với trận đơ-bi Bắc trung bộ giữa LS Thanh Hóa và SL Nghệ An.
    Trong khi đó một bảng quảng cáo có dòng chữ “Emirate UAE” vừa xuất hiện trên sân vận động Pleicu trong trận đấu giữa HAGL và ĐTLA chiều qua. Mức phí không được tiết lộ nhưng sáng nay trả lời báo Phunutoday.vn Chủ tịch hãng này ông Sheikh Ahmed bin Saeed Al Maktoum cho biết “Để thương hiệu của chúng tôi được gắn trên sân Pleicu lừng danh của HAGL thì không những có tiền mà còn phải có mối thâm tình, nếu không thì các CLB khác cũng đều làm được”.
- Theo Haivl.com giải đua thuyền Canoeing Thế giới sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 8 năm nay.  Bảng A thi đấu tại Hà Nội trên sông Tô Lịch và bảng B thi đấu tại Tp HCM trên sông Thị Nghè. Vòng chung kết sẽ diễn ra trên sông Thị Vãi tại Đồng Nai
La Ngọc Phương trong giờ phút đăng quang Miss Grand Slam 2012
 5. Giải Trí

- Trang web chuyên đưa tin về các cuộc thi sắc đẹp uy tín Global Beauties vừa công bố danh hiệu Miss Grand Slam 2012 (tạm dịch: Hoa hậu của các cuộc thi lớn) đã thuộc về cô La Ngọc Phượng (còn gọi là Phượng Tỷ) sinh năm 1985 đến từ Trùng Khánh, Trung Quốc.

- Và cuối cùng - ca khúc “nói dối” do Phương My trình bày đã đứng đầu bảng xếp hạng Bài hát yêu thích tháng 3 do Ban văn nghệ Đài truyền hình Việt Nam VTV công bố.


(Bài viết chỉ nhằm mục đích giải trí trong ngày cá tháng 4)








16 tháng 3, 2013

Góp Ý Dự Thảo Nghị Định "Cho Phép Công An Được Nổ Súng Trực Tiếp Vào Người Vi Phạm"


Toàn Văn Góp Ý Dự Thảo Nghị Định Quy Định Các Biện Pháp Phòng Ngừa, Ngăn Chặn & Xử Lý Hành Vi Chống Người Thi Hành Công Vụ do Bộ công an chủ trì soạn thảo đang được đưa ra lấy ý kiến nhân dân
Người góp ý: Ls Hoàng Văn Thạch
Ngọc Lan
I.              Tiêu chí góp ý:
Việc góp ý được xây dựng trên 04 tiêu chí:
1.            Tính minh bạch:
-  Ngôn ngữ sử dụng có chính xác, dễ hiểu không?
-  Diễn đạt có rõ ràng không? Có thể bị hiểu theo nhiều cách khác nhau không?
….
2.      Tính thống nhất:
   - Có mâu thuẫn với các quy định tại văn bản có giá trị pháp lý cao hơn hay không? có mâu thuẫn với chính các quy định khác trong nội dung dự thảo hay không?
……………..
3. Tính hợp lý:
- Có phù hợp với thực tế cũng như các giá trị xã hội khác hay không
………….
4. Tính khả thi:
- Có dễ dàng thực thi trên thực tế không?

II. Nội Dung Góp Ý
STT
Quy định liên quan
Tiêu chí vi phạm
Trích Dẫn, Phân tích & Góp ý
1
- Khoản 1 Điều 3 về giải thích thuật ngữ “người thi hành công vụ”
- Khoản 1 Điều 3 Luật bồi thường nhà nước.
Tính minh bạch
Phân tích: Dự thảo quy định “Người thi hành công vụ là người được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội”.
Trong khi đó Khoản 1 Điều 3 Luật bồi thường Nhà nước quy định “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”.
Hai quy định này có nội hàm không khác nhau. Tuy nhiên việc diễn giải khác nhau dễ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Không đảm bảo tính thống nhất của pháp luật.
Góp ý: Khi giải thích thuật ngữ “người thi hành công vụ” thay vì Nghị định tự đưa ra một quy định riêng thì nên sử dụng quy định này trong Luật bồi thường Nhà nước.

2
- Khoản 2 Điều 3 dự thảo về giải thích thuật ngữ “chống người thi hành công vụ”
- Khoản 1 Điều 257 BLHS 1999 (sửa đổi năm 2010) về tội “chống người thi hành công vụ”
- Khoản 9 Điều 8, Điểm b Khoản 2 Điều 38 Nghị định 24/2010/NĐ-CP đã được sửa đổi bởi Nghị định 71/2012/NĐ-CP.
Tính thống nhất
Phân tích: Khoản 2 Điều 3 dự thảo quy định “Chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao, ép buộc người thi hành công vụ không thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người thi hành công vụ
Trong khi đó Khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự quy định về tội chống người thi hành công vụ như sau: “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
Như vậy có thể thấy Dự thảo quy định 03 nhóm hành vi chống người thi hành công vụ: 1 - nhóm hành vi cản trở; 2 - nhóm hành vi không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu; 3 - nhóm hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm người thi hành công vụ.
Trong khi Bộ luật hình sự chỉ xử lý hình sự đối với nhóm hành vi cản trở người thi hành công vụ.
Còn 02 nhóm hành vi còn lại là không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu; và xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ mặc dù được dự thảo quy định là hành vi “chống người thi hành công vụ” nhưng nếu hành vi đó nguy hiểm đến mức cần xử lý hình sự thì lại sẽ không bị xử lý về tội “chống người thi hành công vụ” mà bị xử lý về các tội tương ứng khác tùy từng trường hợp. VD: tội “làm nhục người khác” Điều 121 BLHS hoặc người không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu trong khi tham gia giao thông đường bộ thì bị xử lý hình sự về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” – Điều 202 BLHS. Điều này là bất hợp lý.
Ngoài ra quy định  trên còn mâu thuẫn với những văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Ví dụ trong Nghị định 34/2010/NĐ-CP sửa đổi bởi Nghị định 71/2012/NĐ-CP  quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cũng không coi hành vi không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người thi hành công vụ là hành vi “chống người thi hành công vụ” thể hiện qua các liên từ “hoặc”, dấu phẩy để liên kết các cụm từ trên với nhau.
Cụ thể tại Khoản 9 Điều 8 Nghị định này quy định “Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 7 Điều này mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc chống người thi hành công vụ
Tại Điểm b khoản 2 Điều 38 quy định “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây::.. b. Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự hoặc chống lại người thi hành công vụ, xúi giục người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ, sử dụng uy tín của cá nhân, tổ chức để gây áp lực, cản trở người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại: Điểm b Khoản 8, Khoản 9 Điều 8; Điểm g Khoản 6, Khoản 8 Điều 9; Khoản 2, Điểm a Khoản 5 Điều 37 của Nghị định này;”.
Kiến nghị: Không coi nhóm hành vi về không chấp hành yêu cầu, hiệu lệnh hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người thi hành công vụ là hành vi ”chống người thi hành công vụ” mà đó là hành vi độc lập, chỉ giữ lại nhóm hành vi cản trở người thi hành công vụ.

3
- Khoản 4 Điều 3 dự thảo quy định về giải thích thuật ngữ ”dùng thủ đoạn khác để chống người thi hành công vụ”.
- Khoản 2 Điều 3 dự thảo về giải thích thuật ngữ ”chống người thi hành công vụ”


Tính minh bạch, tính thống nhất.
Phân tích: Khoản 4 Điều 3 Dự thảo quy định Dùng thủ đoạn khác để chống người thi hành công vụ là việc sử dụng lời nói, cử chỉ, hành động để xâm phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ hoặc đe dọa tố cáo, tiết lộ bí mật đời tư và các hành vi vi phạm khác nhằm gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại về tài sản của người thi hành công vụ
Trong khi “dùng thủ đoạn khác” và “xúc phạm danh dự, nhân phẩm” người thi hành công vụ đều là các hành vi chống người thi hành công vụ đứng độc lập với nhau trong quy định tại Khoản 2 Điều 3 dự thảo. Do vậy khi giải thích về “dùng thủ đoạn khác” lại tiếp tục nhắc lại hành vi “xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Tức khẳng định “xúc phạm danh dự, nhân phẩm” nằm trong nhóm “thủ đoạn khác”.

Kiến nghị: bỏ đoạn “sử dụng lời nói, cử chỉ, hành động để xâm phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ”.

4
- Khoản 2 Điều 5 quy định về các hành vi nghiêm cấm đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức khác.

Tính minh bạch, tính thống nhất.
Khoản 2 Điều 5 Dự thảo quy định “2. Đối với tổ chức, cá nhân khác:
 a) Coi thường pháp luật; không chấp hành sự điều hành, hướng dẫn, yêu cầu của người thi hành công vụ; chống đối người thi hành công vụ hoặc cản trở người thi hành công vụ thực thi nhiệm vụ;
 b) Lợi dụng quyền tự do, dân chủ để lôi kéo, xúi dục, kích động người khác chống người thi hành công vụ;
 c) Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người thi hành công vụ; xâm hại tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của lực lượng thi hành công vụ.
d) Các hành vi khác nhằm chống người thi hành công vụ”.
1. Phân tích:
- Tại điểm a thì hành vi “coi thường pháp luật” rất mơ hồ. Thực chất việc “coi thường pháp luật” chính là việc “chống người thi hành công vụ”.
- Tại Khoản 2 Điều 3 dự thảo đã quy định hành vi cản trở người thi hành công vụ, không chấp hành yêu cầu, hiệu lệnh của người thi hành công vụ và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người thi hành công vụ chính là “chống người thi hành công vụ”.
Do vậy Điểm a đã sử dụng cụm từ “chống đối người thi hành công vụ” (theo người viết thì “chống đối” và “chống” là một) thì các quy định về không chấp hành sự điều hành, hướng dẫn, yêu cầu của người thi hành công vụ; cản trở người thi hành công vụ hay xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ (quy định tại Điểm c) hay các hành vi khác nhằm chống người thi hành công vụ (quy định tại điểm d) cần phải bỏ. Để lại chỉ dài dòng, phức tạp, khó hiểu.

2. Kiến nghị:
Khoản 2 Điều 5 chỉ nên quy định hai nhóm hành vi bị nghiêm cấm đối với cơ quan tổ chức khác là: chống người thi hành công vụ và lôi kéo, xúi dục, kích động người khác chống người thi hành công vụ. Khi đó Khoản 2 Điều 5 nên quy định lại là: “2. Đối với tổ chức, cá nhân khác:
a.      Chống người thi hành công vụ
b.      Lôi kéo, xúi dục, kích động người khác chống người thi hành công vụ”

5
- Điều 18 Dự thảo quy định về Xử lý tình huống khi có hành vi chống người thi hành công vụ
- Khoản 3 Điều 8, Điều 15, Điều 143 BLHS
- Điều 22 Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ


Tính thống nhất, tính hợp lý, tính minh bạch, tính khả thi.
Trích dẫn: “Điều 18 Xử lý tình huống khi có hành vi chống người thi hành công vụ
1. Trường hợp hành vi chống người thi hành công vụ có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng thì người thi hành công vụ được sử dụng vũ lực, công cụ hỗ trợ và các phương tiện kỹ thuật được trang bị để khống chế, bắt giữ người có hành vi chống người thi hành công vụ.
2. Trường hợp có căn cứ thực tế để cho rằng hành vi chống người thi hành công vụ sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người thi hành công vụ hoặc của người khác hoặc có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì người thi hành công vụ được sử dụng công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật hoặc nổ súng trực tiếp vào người và phương tiện vi phạm để phòng vệ, tấn công, vô hiệu hóa hành vi chống người thi hành công vụ, kịp thời ngăn chặn hậu quả xảy ra và bắt giữ người có hành vi chống người thi hành công vụ”.

Phân tích:
1. Về tính minh bạch và tính khả thi: Khi có hành vi chống người thi hành công vụ thì buộc người thi hành công vụ sẽ phải đưa ra quyết định tức thời, giống như trọng tài trong môn bong đá vậy. Do vậy việc điều luật sử dụng các khái niệm “hậu quả nghiêm trọng” và “tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” là khó hiểu, khó vận dụng trong thực tế;  bản thân những người thi hành công vụ không phải ai cũng là cử nhân Luật để có thể hiểu được các khái niệm này chứ chưa nói đến việc xác định và đưa ra quyết định khẩn cấp trong trường hợp như vậy. Thậm chí quy định của pháp luật hiện nay đối với các thuật ngữ này còn chưa đầy đủ, chưa thống nhất.
Đối với việc xác định “hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản” hiện nay không có quy định chung cho tất cả các trường hợp; việc áp dụng pháp luật đôi khi phải áp dụng pháp luật tương tự. Nhưng đối với trường hợp này hiện nay tồn tại đến 02 quy định song song.
- Theo Nghi quyết 02/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phần hướng dẫn Điều 202 BLHS về tội “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” thì “thiệt hại nghiêm trọng” (được hiểu như là “gây hậu quả nghiêm trọng”) nghĩa là “a. Làm chết một người; b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%; d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”.
- Tuy nhiên theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn áp dụng chương XIV "Các tội phạm xâm phạm sở hữu" của Bộ luật Hình sự năm 1999 do Bộ Công An; Bộ Tư pháp; Toà án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thì “gây hậu quả nghiêm trọng” là một trong các trường hợp sau đây: “a) Làm chết một người; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100%, nếu không thuộc các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a  và b  trên đây;  đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 31 % đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng”.
Có thể thấy nội dung 02 quy định trên có một số điểm không thống nhất, vậy áp dụng Nghi định sẽ phải chọn một trong hai văn bản để áp dụng tương tự. Khi đó các Bộ lại sẽ phải ban hành thêm thông tư để hướng dẫn về vấn đề này. Vô tình Nghị định đã làm rối thêm vấn đề rồi sau đó lại mất công hướng dẫn bằng thông tư. Ngoài ra việc xác định hậu quả nghiêm trọng là người chết thì dễ chứ xác định căn cứ trên hậu quả đối với sức khỏe và tài sản thì theo thủ tục tố tụng hình sự đều phải dùng đến cơ quan giám định. Một việc khó như vậy đâu có thể để cho người thi hành công vụ tự nhận định và quyết định được?
- Đối với khái niệm “tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”  hiện được quy định tại Khoản 3 Điều 8 BLHS, thể hiện tính chất của tội phạm. Trong đó tội phạm ít nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là 03 năm tù, tội phạm nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là 07 năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là 15 năm tù và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là trên 15 năm năm tù, chung thân hoặc tử hình. Việc phải đưa ra nhận định trước khi hành vi đó gây hậu quả là rất khó, vì có khi cùng một tội danh nhưng mức độ khác nhau thì hành vi đó lại thuộc các khoản khác nhau dẫn đến tính chất tội phạm cũng khác nhau, thậm chí đôi khi còn phụ thuộc cả vào nhân thân người vi phạm nữa – cũng hành vi đó nhưng nếu người có tiền án thì nó là nghiêm trọng, ngược lại thì là ít nghiêm trọng; bên cạnh đó nhiều trường hợp còn phải giám định mới có thể xác định được tội phạm thuộc khung nào trong tội danh đó để từ đó đánh giá tính chất của tội phạm. Như vậy để có thể tự tin nổ súng mỗi người thi hành công vụ phải là một chuyên gia pháp luật hình sự kiêm luôn nhân viên giám định.

2. Tính thống nhất
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 22 Pháp lệnh về vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ “Các trường hợp nổ súng gồm:
a) Đối tượng đang sử dụng vũ lực, vũ khí, vật liệu nổ trực tiếp đe dọa đến tính mạng người thi hành công vụ hoặc người khác;
b) Đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật liệu nổ tấn công hoặc đe dọa sự an toàn của công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng được bảo vệ theo quy định của pháp luật;
c) Đối tượng đang thực hiện hành vi cướp súng của người thi hành công vụ;
d) Đối tượng đang sử dụng vũ khí gây rối trật tự công cộng có thể gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;
d) Đối tượng đang đánh tháo người bị giam, người bị dẫn giải do phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tái phạm nguy hiểm; người bị giam, giữ, bị dẫn giải, bị áp giải do phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đang chạy trốn hoặc chống lại;
e) Được phép bắn vào phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông đường thủy nội địa để dừng phương tiện đó trong các trường hợp sau, trừ phương tiện giao thông của các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế:
Đối tượng điều khiển phương tiện đó tấn công hoặc đe doạ trực tiếp đến tính mạng người thi hành công vụ hoặc người khác;
Khi biết rõ phương tiện đó do đối tượng phạm tội điều khiển cố tình chạy trốn, trừ trường hợp trên phương tiện có chở khách hoặc có con tin;
Khi biết rõ trên phương tiện cố tình chạy trốn có đối tượng phạm tội hoặc vũ khí, vật liệu nổ trái phép, tài liệu phản động, bí mật nhà nước, ma túy số lượng lớn, tài sản đặc biệt quý hiếm, bảo vật quốc gia, trừ trường hợp trên phương tiện có chở khách hoặc có con tin;
g) Động vật đang đe dọa đến tính mạng và sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc người khác.”
Theo quy định trên có thể xác định được các trường hợp nổ súng mà có liên quan đến hành vi chống người thi hành công vụ được quy định tại điểm a “Đối tượng đang sử dụng vũ lực, vũ khí, vật liệu nổ trực tiếp đe dọa đến tính mạng người thi hành công vụ hoặc người khác” và điểm c “Đối tượng đang thực hiện hành vi cướp súng của người thi hành công vụ” và ý hai của điểm d “người bị giam, giữ, bị dẫn giải, bị áp giải do phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đang chống lại”. Ba quy định này rất dễ hiểu và dễ xác định được các trường hợp được nổ súng. Mặc dù vẫn có thể có người đặt câu hỏi “thế nào là đe dọa tính mạng?” tuy nhiên trong một tình huống cụ thể thì gần như tất cả những người dân bình thường đều có thể đưa ra được nhận định của mình về việc hành vi đó đã đe dọa đến tính mạng người khác hay chưa? VD: đối tượng vi phạm dung gậy sắt đuổi đánh người thi hành công vụ thì có thể có người cho là nó chưa đe dọa đến tính mạng, mới chỉ đe dọa đến sức khỏe thôi; lại cũng có người cho rằng hành vi đó cùng với thái độ của người vi phạm thì được coi là đe dọa đến tính mạng người thi hành công vụ. Hay nói cách khác quy định trên là dễ hiểu, dễ vận dụng; chỉ có cách nhận định của mỗi người khác nhau thôi. Còn hành vi cướp súng của người thi hành công vụ thì quá rõ ràng, có lẽ không cần bình thêm. Hai hành vi trên tựu trung lại thì đều là trường hợp hành vi vi phạm đang đe dọa đến tính mạng người khác, tức đe dọa đến cái quyền thiêng liêng nhất của con người là quyền được sống. Cho nên pháp lệnh mới quy định cho phép được nổ súng. Còn trường hợp thứ 3 “người bị giam, giữ, bị dẫn giải, bị áp giải do phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đang chống lại”  cũng là trường hợp mà các tội tượng mặc dù phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (có hình phạt từ 15 năm tù trở lên đến chung thân, tử hình) đang bị dẫn giải nhưng vẫn thể hiện bản chất lưu mang, hung hãn khi chống lại người thi hành công vụ, các đối tượng này nếu thoát ra ngoài sẽ gây nguy hiểm rất nhiều cho xã hội và rất khó để cải tạo cho nên việc nổ súng vào nhóm đối tượng này là cần thiết. (Bản thân các cán bộ dẫn giải đối tượng vi phạm trong trường hợp này cũng đã xác định được người vi phạm có phải là đối tượng phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay không? Nên việc đưa ra quyết định nổ súng rất dễ dàng.)
Tuy nhiên dự thảo nghị định lại quy định ngay cả khi đe dọa đến sức khỏe hoặc tài sản của người thi hành công vụ hoặc người khác thì người thi hành công vụ đều có quyền nổ súng. Tức là dự thảo đã mở rộng thêm quyền được nổ súng chứ không phải cụ thể hóa Pháp lệnh. Ví dụ: một người đang có hành vi chống người thi hành công vụ bằng việc phóng hỏa đốt chiếc xe mô tô của Công an giao thông, khi đó nếu chiếc xe của lực lượng Công an có giá trị từ 50 – dưới 200 triệu đồng thì hành vi của người vi phạm có dấu hiệu phạm vào Khoản 2 Điều 143 BLHS tội “hủy hoại tài sản” có hình phạt từ 2 – 7 năm tù - tức tội phạm nghiêm trọng. Lúc này theo quy định của Khoản 3 Điều 22 pháp lệnh cũng như Điều 15 BLHS thì cảnh sát giao thông không được phép nổ súng vào người vi phạm mà phải dùng các biện pháp ngăn chặn khác, thậm chí nếu không còn biện pháp nào thì cũng đành để người vi phạm đốt chiếc xe và xử lý sau chứ không được bắn thẳng vào họ. Tuy nhiên theo Khoản 2 Điều 18 dự thảo thì trường hợp này Công an giao thông được phép nổ súng trực tiếp vào người vi phạm (tức có thể giết chết anh ta).
Mặc dù tinh thần của Nghị định dự thảo là quy định cụ thể, chị tiết hơn quy định tại pháp lệnh, nhưng thực chất là bổ sung thêm quy định mới.
3. Tính hợp lý: Quyền được sống của con người là quyền thiêng liên và quan trọng nhất trong các quyền. Do vậy việc tước đoạt sinh mạng của người khác phải được quy định một cách chặt chẽ và thấu đáo. Chỉ khi cá nhân đó xâm phạm hoặc có ý định hoặc nguy cơ xâm phạm đến quyền được sống của người khác hoặc khí họ trở thành đối tượng nguy hiểm cho xã hội, khó cải tạo thì mới được quyền tước bỏ tính mạng của họ. Đó cũng chính là lý do vì sao mà pháp lệnh đã quy định về 03 trường hợp được nổ súng liên quan đến chống người thi hành công vụ mà tôi đã liệt kê ở trên.
Kiến nghị: Nên bỏ quy định cho phép người thi hành công vụ được nổ súng trực tiếp vào người chống người thi hành công vụ như trong dự thảo. Thay vào đó nên quy định việc nổ súng trực tiếp vào người thi hành công vụ thực hiện theo theo Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ



II. Nội Dung Dự Thảo Nghị Định đang được lấy ý kiến (đính kèm):

CHÍNH PHỦ


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:        /2013/NĐ-CP
Hà Nội, ngày       tháng    năm 2013
DỰ THẢO
NGHỊ ĐỊNH
Quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý
hành vi chống người thi hành công vụ



Căn cứ Bộ luật hình sự năm 1999; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật hình sự năm 2009;
Căn cứ Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003;
Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Căn cứ Pháp lệnh về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011;
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an;
Chính phủ ban hành Nghị định quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ.


Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định về các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ; các điều kiện bảo đảm; chế độ, chính sách đối với người thi hành công vụ, người trực tiếp tham gia ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý  hành vi chống người thi hành công vụ.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và các công dân được giao nhiệm vụ thi hành công vụ; các cơ quan, tổ chức, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức, người nước ngoài cư trú, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Người thi hành công vụ là người được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội.
            2. Chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao, ép buộc người thi hành công vụ không thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người thi hành công vụ.
            3. Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ là việc sử dụng sức mạnh thể chất hoặc công cụ, phương tiện để tấn công hoặc đe dọa tấn công người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao.
            4. Dùng thủ đoạn khác để chống người thi hành công vụ là việc sử dụng lời nói, cử chỉ, hành động để xâm phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ hoặc đe dọa tố cáo, tiết lộ bí mật đời tư và các hành vi vi phạm khác nhằm gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại về tài sản của người thi hành công vụ.
Điều 4. Nguyên tắc phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ
1. Tuân thủ quy định của pháp luật; tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Lấy phòng ngừa là chính; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm khắc mọi hành vi chống người thi hành công vụ.
3. Thận trọng, chủ động, linh hoạt trong ngăn chặn, xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ; bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ; hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản do hành vi chống người thi hành công vụ gây ra.
4. Bảo đảm các yêu cầu về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ. Chỉ áp dụng các biện pháp ngăn chặn khẩn cấp, các biện pháp cưỡng chế cần thiết sau khi đã áp dụng các biện pháp vận động, thuyết phục người có hành vi chống người thi hành công vụ nhưng không có hiệu quả.
Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm
            1. Đối với người thi hành công vụ:
a) Vi phạm điều lệnh, nội quy, quy trình, kế hoạch công tác, vi phạm trình tự, thủ tục, thẩm quyền trong khi thi hành công vụ;
b) Vi phạm đạo đức nghề nghiệp; tham nhũng, tiêu cực, trục lợi cá nhân, hách dịch, cửa quyền hoặc có hành vi, thái độ, tác phong, lời nói, ứng xử không đúng mực trong khi thi hành công vụ;
c) Vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ; vi phạm các quy định về nổ súng hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác trong khi thi hành công vụ.
2. Đối với tổ chức, cá nhân khác:
            a) Coi thường pháp luật; không chấp hành sự điều hành, hướng dẫn, yêu cầu của người thi hành công vụ; chống đối người thi hành công vụ hoặc cản trở người thi hành công vụ thực thi nhiệm vụ;
b) Lợi dụng quyền tự do, dân chủ để lôi kéo, xúi dục, kích động người khác chống người thi hành công vụ;
            c) Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người thi hành công vụ; xâm hại tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của lực lượng thi hành công vụ.
d) Các hành vi khác nhằm chống người thi hành công vụ.
Điều 6. Bảo đảm kinh phí cho hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ
Kinh phí cho hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ do ngân sách Nhà nước cấp. Việc lập dự toán, cấp và sử dụng kinh phí cho hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ được thực hiện theo Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Điều 7. Chế độ, chính sách đối với người thi hành công vụ, người trực tiếp tham gia ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ
1. Người thi hành công vụ, người trực tiếp tham gia ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ có thành tích thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng; trường hợp bị chết thì được xem xét, công nhận là liệt sĩ, nếu bị thương thì được xem xét, công nhận là thương binh hoặc được hưởng chính sách như thương binh theo quy định của pháp luật.
2. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hướng dẫn cụ thể việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này.
Chương II
CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA
HÀNH VI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

            Điều 8. Tham mưu, đề xuất chính sách, pháp luật, biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ
            Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tham mưu, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ.
            Điều 9. Thông tin, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ
            Cơ quan, tổ chức, chính quyền các cấp có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ của công dân, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng thực thi pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân và các thành viên thuộc cơ quan, tổ chức, địa phương mình; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ.
            Điều 10. Xây dựng và tổ chức thực hiện các phương án, quy trình, quy chế, kế hoạch công tác
            Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan, tổ chức, lực lượng thực thi công vụ có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện các phương án, quy trình, quy chế, kế hoạch công tác cụ thể đối với từng lĩnh vực, địa bàn, đối tượng cụ thể. Trong đó, các phương án, quy trình, quy chế, kế hoạch công tác và chiến đấu phải dự kiến các tình huống có thể xảy ra và biện pháp, cách thức, trình tự giải quyết, nhất là các tình huống liên quan đến gây rối trật tự công cộng; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; trong việc cưỡng chế, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất đai; tuần tra, kiểm soát xử lý vi phạm về trật tự, an toàn giao thông, trật tự công cộng; ngăn chặn hành vi phạm tội và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
            Điều 11. Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp
            Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xây dựng và thực hiện chương trình huấn luyện, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, phương pháp vận động, thuyết phục, kỹ năng sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện, thiết bị chuyên dụng và kỹ năng phòng vệ chính đáng, xử lý tình huống khi có hành vi chống người thi hành công vụ cho phù hợp với đối tượng, địa bàn, lĩnh vực thuộc quyền quản lý. Xây dựng đội ngũ cán bộ thi hành công vụ trong sạch, vững mạnh, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện chức năng, chức trách; rèn luyện lễ tiết, tác phong, thái độ đúng mực của người thi hành công vụ trong khi thực thi nhiệm vụ.         
Điều 12. Tuần tra, kiểm soát, bảo vệ các khu vực, địa bàn theo quy định của pháp luật
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan, đơn vị Công an, Quân đội, Kiểm lâm, Hải quan và các cơ quan, tổ chức, lực lượng thực thi công vụ khác có trách nhiệm tổ chức tuần tra, kiểm soát trên phạm vi lĩnh vực, địa bàn, tuyến thuộc thẩm quyền quản lý; kịp thời phát hiện, xử lý đối tượng có hành vi chế tạo, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Khi tiến hành hoạt động tuần tra, kiểm soát, lực lượng thực thi công vụ phải sử dụng đúng trang phục, phương tiện được trang bị; tuân thủ trình tự, thủ tục, kế hoạch, quy trình công tác đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Điều 13. Trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ
Người thi hành công vụ khi thực hiện nhiệm vụ được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ để thi hành nhiệm vụ. Các cơ quan chức năng có trách nhiệm trang bị đầy đủ vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ theo quy định của pháp luật cho người thi hành công vụ để thi hành nhiệm vụ.
Điều 14. Trách nhiệm kiểm tra, xử lý vi phạm, tiêu cực đối với người thi hành công vụ
Các cơ quan, tổ chức quản lý người thi hành công vụ có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác, phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi tham nhũng, tiêu cực và các hành vi vi phạm pháp luật khác trong lực lượng thực thi công vụ. Thường xuyên kiểm tra, chấn chỉnh việc thực thi nhiệm vụ và chấp hành pháp luật của người thi hành công vụ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ.
Điều 15. Thông báo về địa phương, nơi cư trú đối với người có hành vi chống người thi hành công vụ
1. Sau khi xử lý vi phạm đối với người có hành vi chống người thi hành công vụ, cơ quan đã ra quyết định xử lý vi phạm có trách nhiệm gửi thông báo bằng văn bản về danh tính, hành vi vi phạm, hình thức, biện pháp xử lý vi phạm đối với người có hành vi chống người thi hành công vụ về chính quyền địa phương nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người vi phạm học tập, lao động, làm việc để có biện pháp phòng ngừa, quản lý, giáo dục.
2. Đối với các vụ án chống người thi hành công vụ, đề nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền tăng cường tổ chức xét xử lưu động để góp phần phòng ngừa, giáo dục chung.

Chương III
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN, XỬ LÝ
HÀNH VI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

Điều 16. Các biện pháp ngăn chặn hành vi chống người thi hành công vụ
1. Giải thích cho người có hành vi vi phạm biết rõ là họ đã vi phạm pháp luật và yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm đó. Yêu cầu người vi phạm xuất trình giấy tờ tùy thân để kiểm tra.
2. Cưỡng chế người có hành vi vi phạm pháp luật buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm, chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ;
 3. Bắt giữ người có hành vi chống người thi hành công vụ; khám người, phương tiện vi phạm; tước bỏ, vô hiệu hóa vũ khí, công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ hoặc hung khí (nếu có).
Trình tự, thủ tục bắt giữ, khám xét người có hành vi chống người thi hành công vụ, khám phương tiện vi phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
4. Trường hợp tụ tập đám đông chống người thi hành công vụ thì tiến hành các biện pháp nhằm giải tán đám đông; ngăn chặn, bao vây, khống chế, cô lập đối tượng cầm đầu, tổ chức, xúi giục.
5. Đưa người có hành vi chống người thi hành công vụ về trụ sở cơ quan Công an, trụ sở cơ quan có thẩm quyền xử lý hoặc trụ sở Ủy ban nhân dân nơi gần nhất để giải quyết. Trong trường hợp người có hành vi vi phạm cố tình chống đối, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ thì được sử dụng công cụ hỗ trợ, phương tiện được trang bị để buộc người vi phạm phải chấp hành.
6. Lập biên bản về hành vi chống người thi hành công vụ để làm căn cứ cho việc xử lý theo quy định của pháp luật;
7. Quyết định theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định tạm giữ người, phương tiện vi phạm theo quy định của pháp luật.
Điều 17. Cưỡng chế người có hành vi vi phạm pháp luật buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm, chấp hành hiệu lệnh của người thi hành công vụ
Trong trường hợp người có hành vi vi phạm không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm sau khi đã được giải thích, tuyên truyền, thì người thi hành công vụ được phép sử dụng vũ lực, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật được trang bị để buộc người có hành vi vi phạm pháp luật chấm dứt ngay hành vi vi phạm và tuân thủ hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ.
Điều 18. Xử lý tình huống khi có hành vi chống người thi hành công vụ
1. Trường hợp hành vi chống người thi hành công vụ có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng thì người thi hành công vụ được sử dụng vũ lực, công cụ hỗ trợ và các phương tiện kỹ thuật được trang bị để khống chế, bắt giữ người có hành vi chống người thi hành công vụ.
2. Trường hợp có căn cứ thực tế để cho rằng hành vi chống người thi hành công vụ sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người thi hành công vụ hoặc của người khác hoặc có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì người thi hành công vụ được sử dụng công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật hoặc nổ súng trực tiếp vào người và phương tiện vi phạm để phòng vệ, tấn công, vô hiệu hóa hành vi chống người thi hành công vụ, kịp thời ngăn chặn hậu quả xảy ra và bắt giữ người có hành vi chống người thi hành công vụ.
 Điều 19. Phối hợp, hỗ trợ trong xử lý hành vi chống người thi hành công vụ
            1. Trong trường hợp hành vi chống người thi hành công vụ vượt quá khả năng giải quyết hoặc trường hợp có nhiều người thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ, thì người thi hành công vụ có thể yêu cầu các lực lượng vũ trang nhân dân nơi gần nhất hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phối hợp, hỗ trợ để ngăn chặn, xử lý kịp thời.
            2. Cơ quan Công an, các lực lượng thuộc Quân đội nhân dân nơi gần nhất và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm phối hợp ngay với người thi hành công vụ để kịp thời ngăn chặn, xử lý người có hành vi chống người thi hành công vụ.
            Điều 20. Xử lý người có hành vi chống người thi hành công vụ
Việc xử lý người có hành vi chống người thi hành công vụ được thực hiện theo quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Chương IV
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN VÀ XỬ LÝ HÀNH VI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
Điều 21. Trách nhiệm của Bộ Công an
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
2. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, tổ chức chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ theo quy định tại Nghị định này và quy định của các văn bản pháp luật khác có liên quan.
3. Tổ chức chỉ đạo việc điều tra, xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật.
4. Chỉ đạo Công an các cấp và các đơn vị thuộc quyền đẩy mạnh công tác tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm đến cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân và nhân dân.
5. Chỉ đạo Công an các cấp xây dựng và thực hiện nghiêm phương án, quy chế, quy trình, kế hoạch và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
6. Tổ chức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, võ thuật, kỹ năng quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sỹ và các lực lượng có liên quan thuộc quyền quản lý.
7. Trang bị đủ vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ để thi hành công vụ.
Điều 22. Trách nhiệm của Bộ          Quốc phòng
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực quốc phòng.
2. Tổ chức chỉ đạo việc điều tra, xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc quyền xây dựng và thực hiện nghiêm phương án, quy chế, quy trình, kế hoạch và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực quốc phòng.
4. Tổ chức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, võ thuật, kỹ năng quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sỹ và các lực lượng có liên quan trong Quân đội nhân dân.
5. Hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong Quân đội có kế hoạch phối hợp với chính quyền địa phương nơi đóng quân tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
6. Trang bị đủ vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ phương tiện nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ để thi hành công vụ.
Điều 23. Trách nhiệm của Bộ Tài chính
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ trong các lĩnh vực công tác thuộc quyền quản lý.
2. Chỉ đạo xây dựng và thực hiện các phương án, quy chế, quy trình, kế hoạch và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ; tổ chức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ cho lực lượng chức năng thuộc quyền quản lý.
3. Trang bị hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền trang bị đủ vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật cho các lực lượng chức năng để thi hành công vụ.
4. Bảo đảm kinh phí phục vụ công tác phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ cho các cơ quan, tổ chức, địa phương theo quy định của pháp luật.
Điều 24. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ trong công tác thi hành án dân sự và các lĩnh vực công tác khác thuộc quyền quản lý.
2. Phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ.
3. Chỉ đạo xây dựng và thực hiện các phương án, quy chế, quy trình, kế hoạch và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ; tổ chức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ cho lực lượng chấp hành viên và các lực lượng chức năng khác thuộc quyền quản lý.
4. Trang bị hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền trang bị đủ công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ theo quy định của pháp luật cho các lực lượng chức năng để thi hành công vụ.
Điều 25. Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ trong lĩnh kiểm lâm và các lĩnh vực khác thuộc quyền quản lý.
2. Chỉ đạo xây dựng và thực hiện các phương án, quy chế, quy trình, kế hoạch và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ; tổ chức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ cho lực lượng chức năng thuộc quyền quản lý.
3. Trang bị hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền trang bị đủ vũ khí, công cụ hỗ trợ phương tiện nghiệp vụ theo quy định của pháp luật cho các lực lượng chức năng để thi hành công vụ.
Điều 26. Trách nhiệm của Bộ Giao thông vận tải
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực bảo đảm trật tự an toàn giao thông thuộc quyền quản lý.
2. Chỉ đạo xây dựng và thực hiện các phương án, quy chế, quy trình, kế hoạch và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ; tổ chức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ cho lực lượng thanh tra giao thông và các lực lượng chức năng khác thuộc quyền quản lý.
3. Trang bị hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền trang bị đủ công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ theo quy định của pháp luật cho các lực lượng chức năng để thi hành công vụ.
Điều 27. Trách nhiệm của Bộ Công thương
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi chống người thi hành công vụ trong công tác quản lý thị trường và các lĩnh vực công tác khác thuộc quyền quản lý.
2. Chỉ đạo xây dựng và thực hiện các phương án, quy chế, quy trình, kế hoạch và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ; tổ chức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ cho lực lượng quản lý thị trường và các lực lượng chức năng khác thuộc quyền quản lý.
3. Trang bị hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền trang bị đủ công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ theo quy định của pháp luật cho các lực lượng chức năng để thi hành công vụ.
Điều 28. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp
Các bộ, cơ quan nganh bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm:
1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động cán bộ, công chức và nhân dân thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị thuộc quyền quản lý của mình thực hiện các quy định tại Nghị định này.
2. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền triển khai và đôn đốc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ.
3. Thực hiện thanh tra, kiểm tra theo chức năng, nhiệm vụ và quy định của pháp luật; phối hợp và hỗ trợ cơ quan, lực lượng thi hành công vụ trong việc phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ.
4. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc quyền xây dựng phương án, quy chế, quy trình, kế hoạch và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực, địa bàn thuộc quyền quản lý.
5. Trang bị hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền trang bị đủ công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ theo quy định của pháp luật cho các lực lượng chức năng để thi hành công vụ.
6. Bảo đảm kinh phí cho công tác phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật.

Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 29. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày     tháng      năm 2013.
Điều 30. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Toà án nhân dân tối cao;
- UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Công báo;
- Lưu: VT, NC (10b).
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG




Nguyễn Tấn Dũng